Diễn Đàn Paltalk: Room NghiênCứu ChínhTrị

Khai mạc lúc 22.00 giờ Paris Thứ sáu 09 tháng 05 năm 2003

 Chủ đề :

ASEAN và VIỆT NAM

ĐỊA LƯ CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH TRỊ VÙNG ĐÔNG NAM Á

 Nói đến vùng Đông Nam Á, chúng ta không thể không nói đến ṭan vùng Á châu và địa lư chiến lược vùng Đông Nam Á, mà khi nói tới địa lư, chiến lược, chính trị vùng này, chúng ta cũng không thể quên ảnh hưởng chính trị của các cường quốc thế giới trên vùng. 

Trên một diện tích gần 1/3 đất nổi của quả địa cầu với 49.934.000km2, với một dân số hơn nửa dân số nhân lọai. Á châu là nơi mà người ta thấy những nền văn minh cổ kính nhất của nhân lọai xuất hiện. Nơi đó người ta đă khám phá ra những nguyên tắc đầu tiên của canh nông và chăn nuôi, là nơi phát xuất ra những tôn giáo chính của nhân lọai Do thái giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, ấn Độ giáo và Phật giáo (Judaisme, Christianisme, Islam, Hindhouisme,Bhouhisme).

 Vai tṛ của vùng Đông Nam Á.

 Vùng Đông Nam Á là vùng đi từ vịnh Bắc Việt tới vùng vịnh Bengale, một vùng đất bị đồi núi chia cắt ra làm nhiều mảnh. Nếu chúng ta lấy Équateur làm mốc điểm, th́ là một vùng đất đi từ phía bắc Xích Đạo (Équateur) đến vĩ tuyến thứ 23, về phía nam, đi từ Équateur đến vĩ tuyến thứ 10. Bên kia eo biển Mă Lai là một vùng Quần đảo dài hàng ngh́n cây số lập thành hai cung đảo : cung đảo Mă lai và cung đảo Moluques.

 Đông Nam Á gồm các nước sau đây : 

 (Nằm bên trên các nước Đông Nam á là Trung Cộng với diện tích: 9.598.000km2 ; Dân số: 1 262 460 000 ; TSL : 1 141,87 tỷ USD ; SLDN: 904 USD. Vừa vượt hàng rào nghèo đói.)

 Kết Luận

 Đông Nam Á là vùng đất có sắc thái chính trị và văn hóa hết sức khác biệt. S du nhập phong trào cộng sản  từ thập niên 30, cùng với sự giành độc lập của các quốc gia trong vùng, sau Thế chiến thứ Nh́, nhất là sự hiện diện và thống trị của đảng CSVN ở các nước Đông Dương cùng chính sách lệ thuộc Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, muốn làm tiền đồn cộng sản trong vùng, đă làm cho vùng này bất ổn triền miên, có thể nói cho tới ngày hôm nay, mặc dầu Đệ Tam Quốc Tế CS và Liên Sô không c̣n nữa.

 Nh́n bản đồ Đông Nam Á, eo biển Mă Lai là con lộ ngắn nhất nối liền Ấn Độ Dương và Thái B́nh Dương, băng qua biển Nam Trung Quốc. Đó là con đường chuyên chở 85% dầu hỏa cần cho kỹ nghệ Nhật bản. Hải cảng chính của Singapore nằm ngay cửa của eo biển Mă Lai, là hải cảng lớn thứ 3 thế giới, tại đó có cả trăm hăng vận chuyển hàng hải lớn nhất thế giới và trung b́nh cứ 10 phút lại có một chiến tàu ra vào.

Ng̣ai eo biển Mă Lai, các quần đảo Paracels và SparTley ( Trường Sa và Ḥang Sa) cũng là một điểm nóng gây ra tranh chấp trong vùng. 

Chu chi Nam

ASEAN - QUÁ TR̀NH H̀NH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Đông Nam Á là một khu vực có lịch sử lâu đời và trong quá tŕnh phát triển của ḿnh đă đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nền văn minh nhân loại. Các nước trong khu vực có sự tương đồng cao trên nhiều lĩnh vực văn hoá - xă hội cũng như tŕnh độ phát triển kinh tế. Chính v́ vậy, nhu cầu hợp tác, liên kết các nước trong khu vực luôn được đặt ra ở các thời điểm lịch sử. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, trước xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá trên thế giới đang diễn ra nhanh chóng, nhu cầu về sự liên kết giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á lại càng trở nên cần thiết.
 

Ngày 8-8-1967, tại Bangkok, Thái Lan, các Bộ trưởng Ngoại giao, đại diện cho chính phủ của năm nước Đông Nam Á là Nam Dương, Mă Lai Á , Phi Luật Tân, Singapore và Thái Lan đă họp mặt và đi đến kư kết một văn kiện quan trọng, bản Tuyên bố Bangkok, tạo dựng nền tảng cho sự ra đời của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN).
 

Trong nội dung của Tuyên bố Bangkok, các mục tiêu và mục đích của Hiệp hội được xác định là hợp tác để phát triển toàn diện trên mọi lĩnh vực có mối quan tâm và quyền lợi chung của tất cả các nước trong khu vực: ''Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xă hội và phát triển văn hoá trong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần công bằng và phối hợp là nhằm tăng cường nền tảng cho một cộng đồng hoà b́nh và thịnh vượng của các nước ĐÔNG NAM Á.''

 

Có thể nói, ngay từ khi ra đời, ASEAN đă hoạch định phạm vi liên kết của ḿnh không chỉ ở các nước sáng lập viên, mà ở tất cả các nước khác trong khu vực, xác định
mục tiêu xây dựng Đông Nam Á trở thành một khụ vực đoàn kết, gắn bó để cùng chung sống hoà b́nh, thịnh vượng. Trong quá tŕnh h́nh thành và phát triển của ḿnh, cho đến nay kỳ vọng này đă trở thành hiện thực với sự hội tụ của đầy đủ mười nước trong ASEAN. Thời điểm gia nhập chính thức của các thành viên mới của Hiệp hội như sau:

 

- Ngày 7-l-1984, Brunei gia nhập - thành viên thứ sáu.

- Ngày 28-7-1995, Việt Nam gia nhập - thành viên thứ bảy.

- Ngày 28-7-1997, Lào và Miến Điện gia nhập – thành viên thứ tám và chín.

- Ngày 30-4-1999 Cam Bốt gia nhập - thành viên thứ mười.

       

Với sự tham gia của các thành viên mới, ASEAN thực sự đă trở thành một khu vực thị trường lớn với số dân đông đảo và là một khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao. Dưới đây là một vài số liệu cơ bản của Hiệp hội:

 

Một số dữ  liệu căn bản của ASEAN

Qu ốc gia

Diện tích

Dân số

Tỷ lệ tăng dân số (%)

Tăng GDP trung b́nh     90-97(%)

Xuất cảng  -  Export (triệu USD)

Nhập cảng  -Import (triệu USD)

Brunei

5.765

0,3144

3,0

2,03

2.364,88

1.877,38

Cam Bốt

181.000

10,91

2,4

5,56

696,5

1.039,6

Nam D ư ơng

1.919.400

199,87

1,5

7,64

53.436,0

41.664,0

Lào

236.000

4,83

2,4

6,66

359,0

706,0

M ă Lai Á

329.749

21,70

2,3

8,86

78.08,9

78.558,1

Mi ến Điện

676.552

46,40

1,8

5,71

839,8

1.817,2

Phi Luật Tân

300.000

73,50

2,3

3,10

25.228,0

38.581,0

Thái Lan

514.000

60,60

1,9

7,36

57.624,4

61.361,6

Singopre

618

3,10

1,1

8,35

124.991,9

132.393,9

Việt Nam

329.566

76,55

1,8

7,84

9.815,0

11.792,0

Tổng số

4.492.650

497,77

 

 

353.434,38

369.790,78


 

Cùng với sự phát triển cả về quy mô thành viên và chiều sâu hợp tác, cho tới nay, ASEAN thực sự là một liên kết khu vực tạo ra sức mạnh ngày một tăng của các nước Đông Nam Á.

 

Về mặt chính trị, ngoại giao, vị thế của ASEAN đang trở nên ngày càng quan trọng trên trường quốc tế và khu vực, trở thành một đối trọng với các quốc gia lớn ở châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ. Với các chương tŕnh lớn về hợp tác kinh tế, tự do hoá thương mại hàng hoá, dịch vụ và đầu tư, khả năng bổ sung và thay thể các nguồn lực sản xuất giữa các nước trong khu vực được tăng lên sẽ dẫn tới hiệu quả cao trong sản xuất và tiêu dùng của thị trường từng nước thành viên, thúc đẩy thương mại và đầu tư nội bộ khu vực cũng như giữa khu vực với phần c̣n lại của nền kinh tế thế giới, thông qua đó để phát triển kinh tế các nước thành viên.
 

Tóm lại, các hoạt động hợp tác trong ASEAN mang tính toàn diện, sâu sắc trên mọi lĩnh vực chính trị, ngoại giao, an ninh, văn hoá - xă hội, khoa học - kỹ thuật và phát triển kinh tế của mười nước thành viên, điều đó tạo ra đặc thù của liên kết khu vực này so với các tổ chức kinh tế thế giới như WTO, APEC, ASEM, cũng như so với nhiều liên kết quốc tế khác trên thế giới hiện nay.

 

 

 

Hoa Kỳ và Singapore kư Hiệp ĐịnhTự Do Thương Mại

 

Tổng thống Hoa Kỳ G.W. Bush và Thủ tướng Singapore Goh Chok Tong đă kư Hiệp định tự do thương mại giữa hai nước vào ngày 06.05.2003.

Hiệp định tự do thương mại này sẽ xóa bỏ  biểu thuế xuất nhập cảng và các thủ  tục thương mại khác đối với khối lượng hàng hoá trị giá khoảng 33 tỷ USD hàng năm, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các ngân hàng và công ty Mỹ tiếp cận thị trường Singapore, một trong những trung tâm tài chính quan trọng của châu Á.

Singapore, mộ t quốc gia nhỏ  nhấ t rtrong khối ASEAN, với 4 triệu dân, sẽ trở thành quốc gia thứ 5 kư thoả thuận miễn thuế với Mỹ, và là quốc gia đầu tiên ở châu Á đạt được thoả thuận này. Phát biểu trong lễ kư, Tổng thống G.W. Bush gọi hiệp định này là "bước tiến quan trọng đối với cả hai nước ". Ông nói, với việc kư hiệp định này, Singapore sẽ càng trở nên quan trọng hơn đối với Hoa Kỳ.

Thủ tướng Singapore Goh Chok Tong cho rằng Hiệp định là một thoả thuận toàn diện và đầy triển vọng giữa hai nước. Hoa Kỳ  cũng bày tỏ sự hài ḷng về việc Singapore ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố.

Cho đến nay Hoa Kỳ đă có quan hệ tự do thương mại với Canada, Mexico, Israel và Jordan.

Singapore hiện là quốc gia có quan hệ thương mại lớn thứ 11 của Hoa Kỳ, với thuận lợi miễn thuế hầu hết các mặt hàng nhập khẩu, cho nên ưu lợi ích lớn nhất của Hoa Kỳ trong hiệp định này là được tiếp cận lĩnh vực tài chính và dịch vụ của Singapore thuận lợi hơn.

Hoa Kỳ là nước có mức đầu tư trực tiếp lớn nhất ở Singapore. Hiện có khoảng 1.300 công ty Mỹ hoạt động tại Singapore.

 

Singapore và ông Lư Quang Diệu

1/ Singapore dưới thời Nhật Bản đô hộ.

Sau khi Tướng Percival người Anh đầu hàng vào ngày 13/ 2/ 1942, quân đội Nhật Bản đă đổi tên thành phố Singapore là Shonan (Quang Nam) hay ánh sáng của phương Nam và coi đây là thủ đô phía nam của Đế Quốc Nhật. Các tù nhân người Âu, người Úc và 2,300 dân thường bị cầm tù tại Changi, nằm tại đầu phía đông của ḥn đảo và trong các trại lính Selarang có trên 15,000 tù binh. 45,000 binh sĩ Ấn Độ và 600 lính Mă Lai phải tuyên thệ trung thành với Hoàng Đế Nhật. Những người từ chối hay bất hợp tác với người Nhật bị gửi đi làm lao dịch tại New Guinea, Sumatra hay Thái Lan và 20,000 binh lính Ấn Độ bị áp buộc tham gia vào đội quân quốc gia Ấn (the Indian National Army) để chiến đấu cho nền độc lập của nước Ấn khỏi tay người Anh. Vào thời gian này, người dân Singapore rất sửng sốt khi thấy những người cai trị cũ bị nhốt tù và rất nhiều người Trung Hoa bị trả thù v́ đă tham gia vào các phong trào chống Nhật. Tất cả người Hoa thuộc phái nam tuổi từ 18 tới 50 đều bị thanh lọc tại các trại tập trung. Những người bị bắt giữ gồm các giáo chức, nhà báo và cựu viên chức của chính quyền Anh. Số người bị ngược đăi, bị hành hạ gồm từ 5,000 tới 25,000 người, tuy nhiên một số người của lực lượng Dalforce và thuộc các đơn vị không chính quy đă trốn thoát được qua bán đảo Mă lai và họ thành lập đội quân Nhân Dân Mă Lai chống Nhật (the Malayan Peoples Army).

Người Nhật c̣n kêu gọi các thương gia người Hoa tại Singapore gây quỹ 10 triệu đồng tiền Singapore để tỏ ḷng cộng tác vào Khối Đại Đông Á (the Greater East Asia Co-Prosperity) bao gồm Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Hoa và vài nước Đông Nam Á Châu. Trên ḥn đảo Singapore, các trường học Anh và Trung Hoa phải dạy tiếng Nhật c̣n các trường học Mă Lai được phép duy tŕ tiếng Mă v́ đây là ngôn ngữ địa phương.

Sự áp chế và hành hạ lúc ban đầu của người Nhật Bản đối với dân chúng Singapore đă khiến cho người dân tại nơi này không hợp tác : phần lớn các gia đ́nh không gửi con em tới trường Nhật khiến cho số học sinh đi học không quá 7,000 em mặc dù có các lớp học tiếng Nhật miễn phí và các phần thưởng, với mục đích dùng tiếng Nhật thay thế tiếng Hoa và tiếng Anh.

Các năm chiếm đóng của quân đội Nhật Bản cũng làm cho nền kinh tế Singapore kiệt quệ, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác đều thiếu thốn, một số thương gia người Hoa đă làm ăn với các viên chức tham nhũng Nhật trên thị trường chợ đen. Nạn lạm phát gia tăng khi chính quyền quân sự Nhật in ra giấy bạc, khắp nơi đều có cảnh đầu cơ, hối lộ, lợi dụng, tham nhũng và vô kỷ luật.

Thực phẩm khan hiếm khiến cho các tù nhân bị giảm khẩu phần. Họ bị hành hạ, bị bắt xây dựng phi trường Changi và công tŕnh này hoàn thành vào tháng 5/ 1945. Các thường dân Singapore cũng bị đưa đi làm đường xe lửa tại Miến Điện, Thái Lan. . ., nhiều người đă bỏ xác tại các công trường nước ngoài.

Ngày 15/ 8/ 1945, quân đội Nhật Bản đầu hàng. Tin tức này đă tới Singapore sau một tuần lễ và trước đó, quân đội Nhật Bản đă lặng lẽ tự rút lui vào trại tập trung ở Jurong. Ngày 05/ 9/ 1945, quân đội Liên Hiệp Anh từ các tầu chiến đổ bộ lên Singapore và được 5 cây số dân chúng đón mừng. Một tuần lễ sau, trước Ṭa Thị Chính Singapore, bộ chỉ huy quân sự Nhật Bản đă kư bản văn đầu hàng trước vị chỉ huy tối cao các lực lượng Đồng Minh tại Đông Nam Á là Đô Đốc Lord Louis Mountbatten.

2/ Thời kỳ sau Thế Chiến Thứ Hai.

Chiến tranh chấm dứt đă làm cho nước Anh ngỡ ngàng. Mọi kế hoạch hậu chiến đều chưa được chuẩn bị. Thời bấy giờ Bộ Thuộc Địa (the Colonial Office) đă quyết định thành lập một liên bang Mă Lai gồm có các tiểu bang Mă Lai, Penang và Malacca trong khi đó Singapore được tách riêng và được dùng làm địa điểm của Toàn Quyền Anh tại vùng Đông Nam Á. Nhiều viên chức thuộc địa cũ cũng như các thương gia đă chống đối việc tách Singapore khỏi bán đảo Mă Lai, họ cho rằng cả hai xứ đều lệ thuộc lẫn nhau về kinh tế trong khi Bộ Thuộc Địa Anh lại tin rằng không thể ép buộc một liên bang trong đó các cộng đồng có các quyền lợi rất khác biệt nhau. Vào tháng 9/ 1945, Singapore trở nên bản doanh của Cơ Quan Hành Chánh Quân Sự Anh (the British Military Administration) dưới quyền của Lord Mountbatten.

Khi người Anh trở lại Singapore, miền thuộc địa cũ này đă ở trong một hoàn cảnh thiếu thốn và đổ nát. Các phương tiện của hải cảng bị dội bom, nhiều con tầu đắm nằm ngổn ngang chắn ngoài cửa cảng. Điện, nước, khí đốt, điện thoại. . . đều ở trong t́nh trạng hư hỏng. Hàng ngàn dân nghèo sống trong các khu nhà lá tồi tàn, nạn cờ bạc và đĩ điếm được hợp pháp hóa dưới thời đô hộ Nhật Bản, nay vẫn phát triển, người dân t́m quên trong thuốc phiện và rượu. Chính quyền quân sự Anh, do một số nhân viên tham nhũng, nên đă quản trị kém và không hữu hiệu nhưng dần dần, từ tháng 4/ 1946, thành phố Singapore cũng phục hồi được điện, nước, ga và hải cảng được giao cho giới dân sự trông nom. Các tù binh Nhật Bản được dùng để sửa chữa các cầu tầu và phi trường. 7 công ty kỹ nghệ, vận tải và quặng mỏ được phép nhập cảng các đồ tiếp tế và nguyên vật liệu. Trường học được mở cửa lại, 62,000 học sinh đă cắp sách đi học kể từ tháng 3/ 1946. Tới cuối năm 1946, Đại Học Raffles và Trường Y Khoa King Edward đă mở cửa lại, để rồi vào năm 1949, hai trường này hợp nhất thành Đại Học Mă Lai (the University of Malaya).

Vào tháng 11/ 1945, Bộ Thuộc Địa Anh đă thiết lập một hội đồng cố vấn (an advisory council) gồm người Singapore để làm việc bên cạnh Cơ Quan Hành Chánh Quân Sự Anh. Trong số 17 nhân viên của Hội Đồng kể trên, có Wu Tian Wang là một cựu lănh tụ du kích chiến và Chủ Tịch của Ủy Ban Cộng Sản của Singapore v́ đảng Cộng Sản vào thời gian này rất được ḷng dân chúng địa phương do công cuộc kháng chiến. Vào tháng 1/ 1946, đội quân chống Nhật coi như bị giải tán sau khi lănh tụ du kích là Chin Peng và các người khác được Lord Mountbatten gắn huy chương, nhưng thực ra đảng Cộng Sản Mă Lai vẫn c̣n cất giữ rất nhiều vũ khí.

Đảng Cộng Sản Mă Lai vào cuối năm 1945 có vào khoảng 70,000 người ủng hộ, đă dồn nỗ lực vào các tổ chức lao động, thường gây nên các cuộc náo loạn. Cuộc tổng đ́nh công hai ngày vào tháng 1/ 1946 với 173,000 công nhân đă khiến cho việc vận chuyển trong thành phố bị ngưng trệ. V́ thế chính quyền quân sự Anh đă bắt giữ 27 đảng viên Cộng Sản cầm đầu, đưa đi đầy 10 người khác mà không xét xử.

Vào tháng 4/ 1946, Cơ Quan Hành Chánh Quân Sự Anh đă ấn định việc thành lập Liên Bang Mă Lai, trong khi đó Singapore là một thuộc địa hoàng gia biệt lập, có cơ quan hành chánh dân sự. Cả hai quốc gia này chia xẻ về tiền tệ, bưu điện và bưu tín, thuế vụ, hàng không dân sự, quản trị di dân và nền giáo dục cao cấp. Do chống lại việc tách Singapore khỏi Mă Lai mà một đảng chính trị địa phương tên là Liên Đoàn Dân Chủ Mă Lai MDU (the Malayan Democratic Union) được thành lập. Mặc dù phần lớn các người sáng lập không phải là Cộng Sản, nhưng liên đoàn này cũng có các người Cộng Sản như ông Wu Tian Wang. Đồng thời vào tháng 3/ 1946 cũng ra đời Tổ Chức Quốc Gia Mă Lai Đoàn Kết UMNO (the United Malays National Organization) được chính quyền Anh thừa nhận. Singapore vẫn là một thuộc địa hoàng gia ở bên ngoài. Đảng UMNO là đảng phái chính trị hoạt động nhạnh nhất tại Mă Lai vào thời kỳ này, đă chủ trương một liên bang gồm có các quốc gia Hồi giáo và chống lại các đạo luật cho phép nhiều sắc dân có các quyền lợi b́nh đẳng bởi v́ điều này sẽ làm thiệt hại vị thế đặc biệt của người dân gốc Mă.

Vào tháng 8/ 1947 cũng xuất hiện đảng Cấp Tiến (the Progressive Party) gồm các doanh nhân và trí thức được giáo dục tại nước Anh, đảng này có tính ôn ḥa. Họat động của các người Cộng Sản Mă Lai thường đưa tới các bạo động và khủng bố (violence and terrorism) nên đă khiến cho chính quyền địa phương ban ra các quy luật khẩn cấp (emergency regulations) hạn chế hội họp và đ́nh công, bắt giữ các người khuấy động mà không xét xử. Đảng Cộng Sản Mă Lai v́ thế bị đặt ra ngoài ṿng pháp luật và Liên Đoàn Dân Chủ Mă Lai MDU càng ngày càng trở nên cấp tiến, đă tẩy chay cuộc bầu cử đầu tiên của Singapore vào năm 1947.

Sau một số thành công về chính trị, các người Cộng Sản hoạt động tại Mă Lai nhận thấy rằng họ không thể giành được chính quyền bằng con đường hợp pháp nếu đi theo lịch tŕnh chính trị của chính phủ thuộc địa Anh, v́ vậy họ bắt đầu một phong trào đấu tranh vơ trang. Chính quyền Anh bèn tuyên bố t́nh trạng khẩn trương và các người Cộng Sản bị đặt ra ngoài ṿng pháp luật. Trên bán đảo Mă Lai đă xẩy ra cuộc chiến tranh du kích, kéo dài trong 12 năm nhưng tại Singapore đă không có trận chiến nào diễn ra và khuynh hướng thiên tả cũng bị suy tàn dần do các quy luật khẩn trương. Như thế tại Singapore, chỉ c̣n hai đảng phái là đảng Cấp Tiến và đảng Lao Động (the Singapore Labour Party) được thành lập năm 1948 để rồi 4 năm về sau cũng tan ră.

Các đảng phái có quyền lực vào thời kỳ này gồm các người đă được giáo dục tại nước Anh, thân với chính quyền Anh nên các đường lối chính trị có tính xa cách người địa phương, nhất là các người gốc Trung Hoa, trong khi người Hoa do thiếu cơ hội học lên cao nên đă qua học tại lục địa. V́ thế một nhà kỹ nghệ người Hoa giàu có là ông Tan Lark Sye đă đề nghị và bỏ tiền ra thành lập vào năm 1956 một đại học giáo dục Trung Hoa, đó là Đại Học Nanyang (Nam Dương).

T́nh h́nh chính trị tại Singapore cho tới lúc này vẫn c̣n xáo trộn với các cuộc đ́nh công, với các tổ chức chính trị như Liên Đoàn Công Nhân Xí Nghiệp và Cửa Hàng (the Singapore Factory and Shop Workers’  Union), Liên Đoàn Công Nhân Xe Buưt (the Singapore Bus Workers’ Union) và Liên Đoàn các Giáo Chức (the Singapore Teachers’ Union). Kế đó, Mặt Trận Lao Động (the Labour Front) được thành lập vào tháng 7/ 1954 và vào tháng 11/ 1954 là đảng Nhân Dân Hành Động (the People’s Action Party).

3/ Ông Lư Quang Diệu và đảng Nhân Dân Hành Động.

Đảng Nhân Dân Hành Động quy tụ được 1,500 người, đă ra mắt tại Sảnh Đường Victoria (Victoria Memorial Hall). Đảng này do một nhóm người Hoa trung lưu, được giáo dục tại nước Anh. Dẫn đầu bởi Tổng Thư Kư Lư Quang Diệu (Lee Kuan Yew), 25 tuổi, đảng c̣n có Toh Chin Chye, Goh Keng Swee, S. Rajaratnam, Tungku Abdul Rahman, chủ tịch của Tổ Chức Quốc Gia Mă Lai Đoàn Kết (UMNO) và Sir Tan Cheng Lock, chủ tịch của Hội Trung Hoa Mă Lai (the Malayan Chinese Association).

Năm 1952, ông Lư Quang Diệu đă là một cố vấn pháp luật cho một số nghiệp đoàn thương mại (trade unions), đă bênh vực thành công các quyền lợi của công nhân, ông cũng đă bảo vệ các sinh viên bị bắt giam trong cuộc biểu t́nh năm 1954 do phản đối chế độ quân dịch. Ông Lư Quang Diệu là thế hệ người Hoa thứ tư, đă theo học tại Đại Học Raffles và Đại Học Cambridge bên nước Anh.

T́nh h́nh chính trị tại Singapore vẫn tiếp tục xáo trộn với các cuộc bạo động, đ́nh công, sinh viên xuống đường, công nhân đ̣i tăng lương, đ̣i cải thiện điều kiện làm việc, phản đối v́ các nhân viên công đoàn bị bắt giữ. . . Riêng vào năm 1955, đă có 275 cuộc đ́nh công, và bạo động vào ngày 12/ 5 đă được gọi là -  Ngày Thứ Năm Đen Tối (Black Thursday) với 4 người bị giết và 31 người bị thương.

Vào tháng 8 năm 1958, Quốc Hội Anh đă chấp thuận đổi Singapore từ một thuộc địa hoàng gia thành một quốc gia (a state) và cuộc bầu cử 51 thành viên Hội Đồng Lập Hiến được dự trù vào tháng 5/ 1959. Các người có án tích lật đổ chế độ không được phép tranh cử. Đă có 10 đảng phái chính trị dự tranh nhưng chỉ có đảng Nhân Dân Hành Động (PAP) của ông Lư Quang Diệu là có ưu thế nhất. Lập trường của đảng này là cổ động cho một chính quyền lương thiện và hữu hiệu, cải cách xă hội và kinh tế, liên kết với Liên Bang Mă Lai. Đảng Nhân Dân Hành Động đă chiếm được 43 trong số 51 ghế.

Nhiệm vụ mới của chính phủ của ông Lư Quang Diệu là cố gắng gây dựng cho dân chúng Singapore t́nh đoàn kết và trung thành. Quốc kỳ, quốc ca và quốc huy mới được phổ biến. Bộ Văn Hóa cố gắng tập hợp ba sắc dân chính là người Mă Lai, người Trung Hoa và người Tamil trong khi tiếng Anh được coi là ngôn ngữ chính thức. Với chủ trương sau này sẽ đoàn kết với Mă Lai, chính quyền đă công nhận tiếng Mă Lai làm quốc ngữ, người dân gốc Mă được theo học miễn phí bậc tiểu học và trung học.

Sau việc đoàn kết quốc gia, nhiệm vụ khó khăn thứ hai là chuyển hóa Singapore từ một nền kinh tế cửa hàng buôn bán (emporium economy) lệ thuộc vào Mă Lai thành một xă hội kỹ nghệ hóa. Kế hoạch bốn năm được Bộ Trưởng Tài Chánh Goh Keng Swee ban hành vào năm 1961 đă cung cấp cho các nhà đầu tư ngoại quốc cũng như bản xứ các quyền lợi như thuế vụ thấp dành cho mọi mặt hàng xuất cảng, cho các kỹ nghệ tiền phong (pionneer industries) và thuế bảo vệ (protective tariffs) cũng được đánh lên mặt hàng nhập cảng. Vùng Jurong được dùng làm khu kỹ nghệ và các ngành kỹ nghệ cần đến nhiều nhân công như vải sợi được khuyển khích để làm giảm bớt nạn thất nghiệp và trợ cấp xă hội. Bộ Gia Cư và Phát Triển (the Housing and Development Board) năm 1960 cũng đối phó với việc khai quang các khu nhà ổ chuột và cứu xét việc tái định cư dân chúng. Dưới sự điều khiển của ông Lim Kim San, một kỹ nghệ gia và chủ ngân hàng, Bộ này đă cho xây cất trong 3 năm đầu hơn 20,000 đơn vị gia cư, đồng thời chi phí về giáo dục cũng gia tăng từ 600 ngàn đồng tiền Singapore lên tới 10 tỉ đồng.

Vào thời gian này, không một nhà chính trị nào dám tin tưởng rằng Singapore có thể độc lập khỏi Mă Lai, trong khi nhiều người trên bán đảo Mă Lai lại e ngại đa số người gốc Hoa tại Singapore. Ngày 27/ 5/ 1961, Tungku Abdul Rahman đă đề nghị thành lập một Liên Bang gồm bán đảo Mă Lai, đảo Singapore và phần đất Bornéo thuộc Anh. Đề nghị này bị cả Indonesia lẫn Phi Luật Tân phản đối. T́nh h́nh rắc rối vẫn tiếp tục xẩy ra cho tới ngày 9/ 8/ 1965, Quốc Hội Mă Lai đă đồng ư bỏ phiếu 126/ 0, chấp thuận tách Singapore khỏi Mă Lai.

Hai ngày sau khi chia tách Mă Lai - Singapore, chính phủ Lư Quang Diệu đă công bố Singapore là một nước cộng ḥa với tiếng Mă Lai là quốc ngữ và các ngôn ngữ chính là tiếng Mă, tiếng Hoa, tiếng Tamil và tiếng Anh. Hội Nghị Lập Hiến được gọi là Quốc Hội (Parliament) và vị lănh tụ người Mă, ông Yusof bin Ishak, được công nhận là Tổng Thống. Quốc gia mới này liền được các nước Anh, Úc, Tân Tây Lan và Hoa Kỳ công nhận và vào tháng 9, được nhận vào Liên Hiệp Quốc, tháng 10 vào Liên Hiệp Anh. Từ nay các nhà lănh tụ Singapore phải chuyên tâm xây dựng một quốc gia độc lập. Rồi tới năm 1967, Tổ Chức ASEAN được thành lập gồm Singapore, Mă Lai, Indonesia, Thái Lan và Phi Luật Tân.

Chính quyền Singapore vào thời kỳ này đă cố gắng tạo dựng nên một xă hội nhiều sắc dân và nhiều ngôn ngữ, khuyến khích sự đa dạng về văn hóa. Nền giáo dục bằng tiếng Anh được người dân chú trọng hơn v́ sự chuẩn bị vào các khu vực thương mại, kỹ nghệ và chính quyền. Năm 1968 tại Singapore có 300 ngàn em học sinh học tiếng Anh so với 130 ngàn em học tiếng Hoa và 2 ngàn em học tiếng Mă. Tuy nhiên, các học sinh vẫn được khuyến khích học thêm tiếng mẹ đẻ, coi như một ngôn ngữ thứ hai. Chính các nhà lănh đạo như ông Lư Quang Diệu, cũng gửi các con theo học tại trường dạy tiếng Trung Hoa v́ họ tin tưởng nơi đây rèn luyện các đức tính truyền thống tốt hơn. Chính phủ Singapore cũng chống tham nhũng tại mọi tầng lớp hành chánh, chú tâm vào kỷ luật xă hội, nhai kẹo cao bị cấm đoán, việc hút thuốc lá tại nơi công cộng bị phạt nặng. Dưới thời ông Goh Keng Swee và các bộ trưởng tài chánh có tài, chính phủ Singapore đă cố gắng ve văn tư bản địa phương và ngoại quốc, giúp đỡ các kỹ nghệ xuất cảng, làm thăng tiến mậu dịch, làm sao cho Singapore không lệ thuộc vào nguồn đầu tư tài chánh của nước Anh.

Sau khi ông Suharto lên nắm quyền tại Indonesia vào năm 1966, việc giao thương giữa Singapore và Indonesia được nối lại. Liên lạc buôn bán với Nhật Bản và Hoa Kỳ cũng gia tăng, nhất là khi người Mỹ tham dự vào cuộc Chiến Tranh Đông Dương.

Một trở ngại lớn cho công cuộc đầu tư tại Singapore là các cuộc tranh căi và đ́nh công lao động. Vào tháng 8/ 1968, chính phủ Singapore đă thông qua một đạo luật cho chủ nhân các xí nghiệp nhiều quyền hành về tuyển dụng, thăng thưởng và sa thải nhân công, việc giảm bớt số ngày nghỉ phép, tăng giờ làm việc. Công nhân có quyền nghỉ phép lúc đau yếu, lănh trợ cấp thất nghiệp và có quyền khiếu nại tại Bộ Lao Động và chủ nhân phải đóng góp vào Quỹ Tiết Kiệm Trung Ương (the Central Provident Fund). Nhờ các luật mới này, sản lượng gia tăng và đă không có các cuộc đ́nh công vào năm 1969. Vào đầu thập niên 1970, Singapore và Mă Lai đă tách biệt về tiền tệ, thị trường chứng khoán và hàng không.

Chính phủ Singapore cũng thiết lập nên Đại Công Ty Jurong (the Jurong Town Corporation) và các khu kỹ nghệ khác. Vào năm 1971, 271 xí nghiệp tại Jurong đă xử dụng 32,000 công nhân và c̣n có hơn 100 xí nghiệp xây dựng. Các nhà đầu tư ngoại quốc bị lôi cuốn tới Singapore v́ t́nh trạng lao động cải tiến, v́ thuế nhẹ tới 5 năm, v́ tại các xí nghiệp của chính phủ không bị hạn chế chuyển tiền lời và tiền đầu tư về nước. . . Vào năm 1972, đầu tư của Hoa Kỳ đă chiếm 42% tổng số đầu tư ngoại quốc. Ngoài ra c̣n có các công ty Tây Âu, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Mă Lai, Úc. . . và cũng vào năm này, một phần tư cơ sở sản xuất của Singapore là các công ty liên doanh (joint-venture companies) hay công ty do người ngoại quốc làm chủ.

Một lôi cuốn khác của Singapore về nguồn tư bản ngoại quốc là do tài nguyên về dầu lửa. Singapore đă là căn cứ để khai thác kỹ nghệ dầu mỏ trong vùng, bao gồm cả Indonesia, lại là một nơi tồn trữ và lọc dầu đứng hàng thứ ba trên thế giới vào giữa năm 1970.

Vào tháng 1/ 1968, chính phủ Anh tuyên bố sẽ rút lui trong ṿng 3 năm căn cứ quân sự đặt tại Singapore trong khi căn cứ này cung cấp 25% GNP của Singapore tức là vào khoảng 450 triệu đồng tiền, cũng như xử dụng 21,000 nhân công địa phương. Chính phủ của ông Lư Quang Diệu đă đổi Cầu Tầu King George VI thành xưởng đóng tầu Sembawang, dùng lại 3,000 công nhân cũ vào việc đóng và sửa chữa tầu biển. Singapore cũng đi vào ngành kỹ nghệ vận tải hàng hải với Công Ty Neptune Orient Line. Vào năm 1975, Singapore là hải cảng bận rộn thứ ba trên thế giới, sau Rotterdam và New York.

Sự thành công về kinh tế và sự yên tĩnh trong xứ không phải là không trả giá. Chính quyền Singapore đă kiểm soát chặt chẽ ngành truyền thông, cấm đoán mọi chỉ trích công cộng. Báo chí bị kiểm duyệt. Các người bất đồng chính kiến bị áp chế và chỉ có một đảng phái trên đất nước.

4/ Một số thành quả của Singapore.

Tới giữa thập niên 1980, mặc dù thế giới bị suy thoái kinh tế, Singapore vẫn tiếp tục tăng trưởng với tỉ lệ 10% vào năm 1980, 6.3% năm 1981 và 8.5% năm 1982. Vào năm 1985, chính phủ Singapore đă xây cất được 500,000 ṭa nhà cao tầng, gọi là housing estates, với các phương tiện phụ thuộc. 88% dân chúng Singapore hay 2.3 triệu người đă được cung cấp nơi ở của chính phủ vào năm 1988. Cung cấp gia cư, canh tân đô thị và cải thiện môi trường đă là các thành công chính của đảng Nhân Dân Hành Động PAP và với đà phát triển này, vào giữa thập niên 1990, Singapore là quốc gia có tỉ lệ cao nhất về số dân chúng sở hữu nhà ở.

Về khu vực kỹ nghệ, cũng vào năm kể trên đă có 3,600 nhà máy, thu dụng 216,000 nhân công. Đại Công Ty Jurong Town đă cung cấp các hạ tầng cơ sở và các phương tiện yểm trợ (support facilities) gồm cả hải cảng kỹ nghệ Jurong (Jurong Industrial Port), và Căn Cứ Hàng Hải Jurong (Jurong Marine Base) là nơi có các hoạt động về dầu lửa. Singapore cũng là một nơi rất tiến bộ về kỹ thuật truyền thông, sau đó là các kỹ nghệ về máy điện toán và điện tử. Vào năm 1981, Singapore đă có từ 65,000 tới 70,000 công nhân điện tử, chiếm 7% lực lượng lao động. Sản lượng xuất (output) về điện tử là 11 tỉ đồng Singapore. Năm 1989, Singapore là nước đứng đầu thế giới về sản xuất ra bộ quay đĩa (disk drives) và các cơ phận điện toán phụ thuộc.

Nền ngoại thương của Singapore vào năm 1988 đă đạt tới 75 tỉ mỹ kim với 2/3 hàng hóa và dịch vụ được dùng để xuất cảng. Singapore cũng khai thác kỹ nghệ du lịch và vào năm 1988, đă đạt được 4.2 triệu du khách. Công ty Hàng Không Singapore SIA (Singapore Airlines) vào năm kể trên đă có 24 phi cơ Boeing 747, 4 Boeing 757, 6 Airbus 310 và đang đặt mua 20 Boeing 747- 400. Công ty này đă bay tới 57 thành phố của 37 quốc gia trên thế giới, đă chuyên chở 5.6 triệu du khách vào năm 1988 và đứng thứ 14 về số hành khách/ km, thứ 12 về trọng tải/ km. Singapore cũng có một hạm đội vận tải gồm 1,243 tầu biển với 156 tầu chở hàng, 150 tầu chở dầu, 49 tầu chở containers, 12 tầu chở khách và 2 tầu chở dầu trọng tải trên 100,000 tấn. Ba cơ xưởng đóng tầu chính là Keppel, Sembawang và Jurong đă chiếm 90% doanh số hay 1 tỉ đồng Singapore. Vào năm 1990, hệ thống xe điện ngầm MRT (Mass Rapid Transit) được hoàn thành và đây là một thành công rất to lớn của Singapore về kỹ thuật và hiện đại hóa.

Về nông nghiệp, Singapore có 2,075 nông trại có giấy phép, tuy chiếm 2,037 mẫu đất nhưng đă sản xuất ra được 362 triệu đồng. Các trại nuôi gà, nuôi heo đă bị giảm bớt v́ ô nhiễm môi trường, từ 200 trại heo nuôi 500 ngàn con xuống c̣n 23 trại nuôi 300 ngàn con vào năm 1990. Rau tươi cũng đươc trồng trọt tại Singapore, chiếm 5.6%, phần c̣n lại được nhập cảng từ Mă Lai, Indonesia, Trung Hoa và Úc. Đặc biệt Singapore sản xuất hoa Phong Lan, thu về trên 6 triệu Mỹ kim vào năm 1988 do xuất cảng sang Tây Âu, Nhật Bản, Úc và Hoa Kỳ. Ngoài ra 153 trại trồng phong lan c̣n cung cấp hoa cho thị trường nội địa và thu được 1 triệu mỹ kim. Kỹ nghệ đánh cá và nuôi cá với 400 nông trại cá (aquarium fish farms) cũng mang về nhiều món lời lớn lao. Vào năm 1988, tổng sản lượng quốc gia GNP của Singapore là 24.7 tỉ mỹ kim, trữ kim là 17 tỉ mỹ kim, lợi tức tính theo đầu người là 9,250 mỹ kim/ năm.

Trong bài diễn văn đầu năm 1984, ông Lư Quang Diệu đă cho rằng sở dĩ Singapore đạt được phát triển kinh tế cao, lạm phát thấp, không thất nghiệp, lư do v́ lực lượng lao động rất chăm làm, nền chính trị ổn định, nền hành chánh hữu hiệu và cũng v́ sự an ninh trong vùng và sự đoàn kết trong Tổ Chức Asean.

Từ tháng 9 năm 1984, chính quyền Singapore đă t́m cách chuyển quyền cho thế hệ lănh đạo thứ hai và vào ngày 28/ 11/ 1990, ông Goh Chok Tong đă làm lễ tuyên thệ nhậm chức Thủ Tướng thứ nh́, thay thế ông Lư Quang Diệu. Ông Lư Quang Diệu được mời giữ chân Bộ Trưởng Đặc Biệt (Special Minister) và người dân Singapore đă gọi ông là - Người Cha của Singapore Mới -. Cũng từ năm 1990, Singapore chuyển dần các kỹ nghệ dùng nhiều lao động (labor-intensive industries) sang các kỹ nghệ dùng kỹ thuật cao (high-tech industries) để làm gia tăng hiệu quả của lực lượng lao động sản xuất và thu hút nhiều hơn các đầu tư quốc tế.

(Phạm Văn Tuấn.)

Kinh Tế ASEAN: Cạnh Tranh Hơn Hội Nhập

Sau khi Đảng Cộng sản Trung Hoa hoàn tất Đại hội thứ 16, một lần nữa, các nước ASEAN sẽ có cơ hội thấy là cục diện kinh tế toàn khu vực đă có thay đổi từ căn bản và các nước Đông Nam Á phải sớm thay đổi sách lược phát triển. Đây là điều vẫn chưa được phản ảnh qua hội nghị cấp cao của ASEAN tại Phnom Penh 11.2002. Diễn đàn Kinh tế sẽ phân tách vấn đề này qua bài viết của tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa.

Kết thúc hội nghị cấp cao của ASEAN tại Phnom Penh, các nước thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á ASEAN đă một lần nữa, tái khẳng định ư chí hội nhập các nền kinh tế vào một khối với hàng loạt hiệp định thương mại để phát triển tự do mậu dịch với Trung Quốc cùng các nước ngoài ASEAN. Bỏ bên ngoài nhu cầu ngoại giao là nói ra vài điều có vẻ tích cực sau một thượng đỉnh, nếu giới lănh đạo các nước ASEAN thực t́nh tin vào điều đó th́ t́nh h́nh quả là đáng lo ngại.

V́ cho đến nay, các nước ASEAN chưa hề thành công trong việc hội nhập kinh tế toàn vùng, và từ nay về sau, sự cạnh tranh trong nội bộ ASEAN sẽ c̣n trở nên gay gắt hơn với sự xuất hiện của kinh tế Trung Quốc. Tiếp theo các bài trước, kỳ này, chúng ta sẽ t́m hiểu v́ sao lại có t́nh trạng đó.
Được lập ra trong thời chiến tranh Việt Nam, 35 năm về trước, Hiệp hội ASEAN chỉ là câu lạc bộ hợp tác kinh tế của năm xứ Đông Nam Á là Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan. Các quốc gia này đă đạt một tốc độ tăng trưởng cao, làm nền móng cho gần 30 năm phát triển liên tục không phải là v́ hội nhập kinh tế với nhau mà v́ cùng theo đuổi sách lược phát triển hướng về xuất khẩu với lực đẩy là đầu tư từ bên ngoài trút vào khu vực chế biến.

Hai yếu tố ngoại nhập giúp họ thành công trong sách lược đó là thứ nhất có Hoa Kỳ bảo vệ về an ninh và thứ nh́, Trung Quốc chưa xuất hiện như một nền kinh tế đáng kể nhờ sự phá hoại của Mao Trạch Đông với giấc mơ cách mạng hoang tưởng của ông ta và với nền kinh tế tập trung kế hoạch hết sức lạc hậu của Hoa Lục.

Ngày nay, hơn 20 năm sau khi Trung Quốc tiến hành cải cách kinh tế nhờ thực sự bước qua cuộc cách mạng về tư duy, cục diện đă đổi khác mà nhiều nước ASEAN chưa ư thức được. Họ vẫn nói về hợp tác, thậm chí hội nhập kinh tế nhờ tự do mậu dịch, trong khi thực tế th́ sách lược phát triển cũ đă bị đào thải và các nước kịch liệt cạnh tranh với nhau trong khi lại bị sức ép rất nặng từ Trung Quốc. Ta sẽ nói đến sách lược đó sau khi nhắc lại bối cảnh t́nh h́nh trong vùng. Trong ba thập niên liền, các nước ASEAN chọn sách lược phát triển gọi là "hướng ngoại" nhờ luồng giao dịch toàn cầu gia tăng rất mạnh và các tổ hợp đa quốc của Tây phương chuyển vốn ra đầu tư vào các nguồn sản xuất ở bên ngoài. V́ vậy, toàn cơi Đông Á trở thành một khu vực chế biến khổng lồ cho sản xuất, với đầu máy là đầu tư quốc tế.

Khi Trung Quốc bừng tỉnh và bắt đầu cải cách kinh tế th́ t́nh h́nh bắt đầu đổi khác. Chỉ dấu báo hiệu sự đổi khác là đầu tư nước ngoài sa sút dần, một nguyên do dẫn tới vụ khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997, lan rộng thành khủng hoảng kinh tế cho toàn khu vực. Đầu tư nước ngoài sở dĩ sa sút v́ Trung Quốc đă thu hút khá nhiều tư bản từ Tây phương, trong khi các nước ASEAN tích lũy một số nhược điểm về cơ cấu làm cho nền kinh tế của khu vực hết là nơi đầu tư hấp dẫn như xưa. Trong suốt giai đoạn hơn 30 năm, sự hội nhập kinh tế của toàn vùng thực ra tiến hành rất chậm, với kết quả rất kém, v́ nhu cầu hội nhập khi đó chưa đặt ra. Bây giờ, ASEAN mới nói đến hội nhập dù thực tế th́ các nước đang cạnh tranh ráo riết với nhau để có thêm đầu tư và thị trường xuất khẩu, đến nỗi làm tổ chức này bắt đầu có mầm mống phân hóa ngay từ bên trong.

Việc hội nhập kinh tế được đề cao tuần trước tại Phnom Penh có thể chỉ là một ước mơ lạc quan bất chấp thực tế. Thực tế th́ ngần ấy quốc gia, có lẽ trừ Thái Lan và Singapore, đều vẫn nh́n sự thể như xưa, và cố chiêu dụ đầu tư trực tiếp của Tây phương vào một số ngành chế biến, với nhiều điều kiện đặc miễn hấp dẫn. Hậu quả sẽ chỉ là cạnh tranh và phao phí đầu tư vào các dự án có giá trị kinh tế thấp, một lư do dẫn tới khủng hoảng tại Nhật và Đông Á. Với kinh tế Hoa Lục đang lên và Hong Kong là cửa ngơ dẫn vào thị trường đó, các nước ASEAN cũng sẽ rất chật vật để chiêu dụ các tổ hợp đa quốc Tây phương khỏi dời chuyển hội sở vào trong lục địa.

V́ t́nh trạng sa sút đó, một số nước, như Singapore, Thái Lan, Malaysia và cả Việt Nam đang lẹt đẹt phía sau, cũng mơ ước khai thác kỹ nghệ du lịch làm nguồn thu nhập mới với chỉ tiêu quá lạc quan. Chưa kể nạn khủng bố, mà điển h́nh là vụ đánh bom Bali cách đây đúng một tháng và những bạo động liên tục xảy ra tại Philippines, 10 nước ASEAN không thể hội nhập về kinh tế khi chỉ có hai ba nước lại muốn thu hút đến ba phần tư số du khách vào xứ ḿnh. Du lịch sẽ là nơi ngốn rất nhiều đầu tư và đem lại rất ít kết quả, ngoài nạn cạnh tranh kịch liệt hơn với nhau.

Bên cạnh kỹ nghệ du lịch, các nước như Thái Lan với Malaysia cũng đang ráo riết cạnh tranh với Singapore để thành các trung tâm chuyển vận và tiếp liệu hàng không hàng hải cho toàn khu vực. Chính phủ sẽ tốn tiền trợ cấp và bị thất thu thuế khóa để cải tiến hàng không, phi cảng, hải cảng mà chẳng t́m ra nguồn lợi tức tương xứng. Sau cùng, một thí dụ sôi nổi nhất là chuyện ngần ấy quốc gia đều cùng