Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Những Biến Động Trong Phong Trào Cộng Sản Quốc Tế . (5) 

( Nguyễn Minh Cần )

Cần nói thêm về sự kiện này, v́ nó là nguyên cớ cho trận đại khủng bố nói trên. Tại đại hội 17 của đảng (tháng 1-2.1934), một số cán bộ kỳ cựu của đảng Lenin đă cố làm một hành động, mà nhiều nhà sử học coi như là trận đánh quyết định chống Stalin và phe cánh: một nhóm đại biểu trong đại hội, do B.Sheboldaev và I.Vareikis thay mặt, đă đề nghị S.Kirov ra ứng cử vào chức vụ bí thư TƯ đảng, họ đề nghị bỏ chức vụ tổng bí thư và chuyển Stalin vào chức vụ chủ tịch Hội đồng dân ủy. Theo lời của A.Mikoyan kể lại tại đại hội 20 (1956), Kirov đă thẳng thắn báo trước chuyện đó cho Stalin, mặc dù vậy Stalin càng thêm nghi ngờ Kirov. Tại đại hội 17, Stalin và phe cánh đă dùng OGPU (tên của cơ quan công an mật vụ thời đó - NMC) để theo dơi đại hội đảng. Đến khi bầu các cơ quan lănh đạo th́ Stalin là người bị phiếu chống nhiều nhất. Cũng theo lời Mikoyan, khi kiểm phiếu thấy thế, chủ tịch ban kiểm phiếu là Zatonsky lo lắng, đến báo cáo ngay với Kaganovich, ủy viên BCT là tay chân của Stalin. Kaganovich cương quyết ra lệnh chỉ được ghi ba phiếu chống Stalin mà thôi. Theo lời của Mikoyan và Shatunovskaya, một phần số phiếu đă bị Kaganovich lấy mất, không c̣n trong hồ sơ đại hội nữa. Sau đại hội 20, ủy ban điều tra của BCT báo cáo là trong hồ sơ đại hội thiếu mất 166 phiếu, như vậy chứng tỏ là có kẻ muốn phi tang việc gian lận phiếu bầu. Một số đại biểu hồi đó c̣n sống sót khai rằng đại hội đă dành sự tín nhiệm cao nhất cho Kirov. Rơ ràng đây là sự gian lận trắng trợn nhất trong lịch sử các ĐCS, chứng tỏ tên độc tài đă coi ư chí của đại hội - cơ quan cao nhất của đảng - chẳng ra cái ǵ cả!

Một vấn đề cấp bách đặt ra cho kẻ độc tài - muốn nắm giữ quyền lực th́ phải trừ ngay kẻ cạnh tranh. Ngày 1.12.1934, Kirov bị ám sát ở Leningrad. Kẻ sát nhân trực tiếp bắn vào Kirov là Leonid Nikolaev bị bắt và xử tử. Vợ, anh em, bạn bè của y cũng bị giết sa.ch. Kẻ thủ mưu vụ này th́... không ai biết được! Vụ này măi măi vẫn c̣n là một "mảng tối" của lịch sử. Tuy nhiên, điều rơ ràng là Stalin đă lợi dụng ngay vụ ám sát này để dựng lên một loạt "vụ án" chính trị, đem xử công khai hàng loạt ủy viên BCT, ủy viên TƯ và cán bộ cao cấp dưới thời Lenin, dựa trên những hồ sơ và bằng chứng giả ma.o. Stalin cho phép tra tấn để lấy khẩu cung, lập hồ sơ, rồi tự ḿnh phê duyệt án tử h́nh đối với các ủy viên BCT, như Zinoviev, Kamenev, Radek, Piatakov, Bukharin, Rykov, Tomsky (ông này đă tự tử trước), v.v..., hai chủ tịch và nhiều ủy viên BCH QTCS, nhiều "đại công thần" của chế độ xô-viết, nhiều tướng lĩnh (ba nguyên soái là Toukhachevsky, Blucher, Egorov, nhiều đại tướng, như Alknis, Bielov, Kachirin, Kork, Ouborevitch, Eideman, Feldman, Primakov, Putna, v.v... nhiều đô đốc hải quân, như Orlov, Viktorov, Sivkov, v.v...) và nhiều cán bộ cấp cao khác của đảng-nhà nước và quân đô.i. Họ đều bị ghép tội "phản cách mạng", thậm chí "gián điệp", "tay sai của nước ngoài". Hàng triệu cán bộ, đảng viên, những nhà trí thức, nhân sĩ, nhiều sĩ quan cao cấp, các quân nhân, những người b́nh thường đă bị bắt bớ, bắn giết hoặc bị quẳng vào các trại tập trung giăng khắp Liên bang xô-viết, gọi là GULAG. Đấy, Stalin đă trả thù việc đại hội 17 định phế truất ông ta như vậy đó.

Trong bản báo cáo bí mật tại đại hội 20, Khrutshev đă cho biết: "Cuộc điều tra cho thấy: 98 người trong số 139 ủy viên TƯ chính thức và dự khuyết do đại hội 17 bầu ra, tức là 70%, đă bị bắt và bị xử bắn (phần lớn vào những năm 1937-38)"... và: "Không những các ủy viên TƯ, mà đa số đại biểu dự đại hội 17 của đảng cũng chịu chung số phâ.n. Trong số 1961 đại biểu chính thức và dự bị th́ 1108 người bị bắt và ghép tội phản cách mạng, tức là hơn một nửa số đại biểu đại hội (tính chính xác là 56,5% - NMC). Sự kiện này tự nó vạch rơ tính chất kỳ quái và ngược đời của những lời buộc tội "phản cách mạng" gán cho đa số đại biểu đại hội". Khrutshev đă cho biết là 80% đại biểu đại hội 17 đă vào đảng trong thời kỳ bí mật, trước tháng 10 năm 1917, đă tham gia nội chiến, nghĩa là trước năm 1921, c̣n về nguồn gốc xă hội th́ 60% là công nhân, lao đô.ng. Trên thực tế, Stalin đă tiêu diệt ĐCS của Lenin và dựng lên ĐCS của ḿnh.

Sau cuộc "đại khủng bố" 1937-1938, ĐCS đă hoàn toàn trở thành một công cụ ngoan ngoăn trong tay của Stalin. Từ đó, chúng ta càng thấy rơ thái độ trịch thượng, coi thường của kẻ độc tài đối với ĐCS. Nếu trước đây, Stalin thấy cần thiết họp đại hội, họp TƯ đảng hay BCT tương đối đều kỳ chẳng qua chỉ để dựa thế vào cái "cơ chế dân chủ trong nội bộ đảng" nhằm đè bẹp và tiêu diệt những địch thủ của ḿnh, c̣n bây giờ cái gọi là "sinh hoạt dân chủ" của ĐCS không c̣n cần thiết cho ông ta nữa: ông đă là chủ của ĐCS rồi. Đây là một ví dụ rất dễ thấy. Khoảng cách giữa đại hội 14 và 15 là 2 năm (1925-1927), giữa đại hội 15 và 16 là 3 năm (1927-!930), giữa đại hội 16 và 17 là 4 năm (1930-1934), giữa đại hội 17 và 18 là 5 năm (1934-1939), giữa đại hội 18 và 19, đại hội cuối đời của Stalin, là 13 năm (1939-1952). Và hội nghị TƯ đảng th́ rất ít họp, đặc biệt từ hội nghị TƯ tháng 2.1947 bàn về nông nghiệp măi đến 5 năm sau, tháng 8.1952 mới có hội nghị TƯ tiếp theo để bàn về đại hội 19 của đảng (xem: D.Volkogonnov. "Stalin", t.2, tr. 614). C̣n BCT th́ hầu như không khi nào họp đủ thành phần. Những quyết nghị của BCT được thực hiện chủ yếu bằng cách lấy chữ kư các ủy viên dưới văn bản dự thảo do Stalin sai người chuẩn bị sẵn. "Dân chủ" kiểu này th́ ai mà dám không "tán thành" ư kiến của "lănh tụ"!

Đấy, ĐCS theo quan niệm của Marx cuối cùng đă biến hóa (metamorphose) thành "công cụ", "kẻ đầu sai" trong tay tên độc tài thực tế đă ngồi chồm hổm trên đầu ĐCS. C̣n chế độ cộng sản mà Marx và Engels mô tả và Lenin khẳng định là "một triệu lần dân chủ hơn các chế độ dân chủ tư sản" th́ hóa ra là một chế độ độc tài chuyên chế nhất trong lịch sử mang nặng tàn dư phong kiến, chế độ nông nô, thậm chí chế độ chiếm hữu nô lệ! Người viết không nói ngoa tí nào. Xin các bạn cứ nghĩ xem, việc ướp xác lănh tụ để tôn thờ, có phải là thứ văn hóa pharaon thời cổ đại không? Việc bắt hàng 5 triệu người, có năm lên đến 7 triệu (ở đây, người viết dẫn số liệu "thận trọng nhất" của các sử gia Nga, c̣n các nhà nghiên cứu nước ngoài th́ cho số liệu cao hơn, thấp nhất là 8 triệu, cao nhất là 15 triệu, c̣n theo báo cáo của chính phủ Anh tại Hội đồng Kinh tế và Xă hội của LHQ ngày 15.8.1950 th́ 10 triệu - xem: M.Geller và A.Nekrich. "Lịch sử nước Ngă1917-1995)", t.2, tr.54) nhốt vào các trại tập trung để khai thác triệt để lao động không công của những tù nhân này, có phải là h́nh thức bóc lột của chế độ chiếm hữu nô lệ không? Việc tổ chức các ṭa án chính trị hồi những năm 30, có phải là áp dụng mẫu mực của các ṭa án giáo hội (inquisition) thời Trung cổ không? Việc Stalin không cho nông dân được có giấy thông hành (tiếng Nga là passport) để buộc chân nông dân, không cho rời khỏi nông thôn có phải là chế độ nông nô không? Cái kiểu tôn ty trật tự trong ĐCS và chế độ xô-viết với những đặc quyền đặc lợi quái gỡ nhất, có phải là tàn dư của văn hóa phong kiến hay không?

Hồi đầu thế kỷ 20, Plekhanov đă từng cảnh báo những người cách mạng Nga rằng trong điều kiện nước Nga c̣n lạc hậu, nền công nghiệp chưa phát triển cao, giai cấp vô sản công nghiệp chưa trưởng thành mà đ̣i làm cách mạng vô sản th́ nhất định không tránh khỏi đưa đến một chế độ độc tài không hạn chế. Lời cảnh báo linh nghiệm biết bao đă bị Lenin và những người bolsheviks gạt bỏ!

Đối với QTCS và PTCSQT:

Càng ngày Stalin càng thấy rơ "tiên đoán thiên tài" của Lenin về cách mạng vô sản thế giới sắp bùng nổ là chuyện vớ vẩn, viễn vông. Nhưng ông ta cũng c̣n cần mạng lưới tay sai ở các nước, cho nên vẫn gắng gượng duy tŕ QTCS trong chừng mực cần thiết cho đường lối chính trị của ông. V́ thế, tiền, vàng, châu báu đổ ra để cấp cho tổ chức này tuy vẫn tiếp tục như trước, nhưng khối lượng ngày càng giảm bớt. Hơn nữa, Stalin e ngại tổ chức này có thể là "hang ổ" cho những lực lượng đối lập chống lại ông, v́ hai chủ tịch BCH QTCS là Zinoviev (1919-1926) và Bukharin (1926-1929) và nhiều cán bộ QTCS đă bị ông hành quyết, nên ông cũng muốn sớm kết liễu tổ chức này. Không phải Stalin không c̣n ư định chinh phục thế giới nữa, nhưng ông tính làm việc đó bằng cách khác, thông qua cơ quan công an mật vụ, mạng lưới gián điệp, cùng với sự liên hệ trực tiếp với các nhóm khủng bố, các ĐCS đă h́nh thành trên các nước và được Liên Xô nuôi dưỡng, đào luyê.n. Chính Dimitrov, chủ tịch cuối cùng của BCH QTCS cũng cảm thấy thái độ lạnh nhạt của Stalin đối với tổ chức mà ôngï đang phụ trách, nên cũng "tự nguyện" đề nghị giảm bớt "chức năng" của QTCS đi. Đến năm 1943, Stalin vin cớ cần làm yên ḷng các nước đồng minh để mở rộng mặt trận chống phát xít, đă tự ư tuyên bố giải tán QTCS mà chẳng thấy cần phải tuân theo "nghi thức dân chủ" của một tổ chức quốc tế "độc lập". C̣n Dimitrov, chủ tịch BCH QTCS, th́ được chuyển sang làm trưởng ban đầu tiên của Ban quốc tế của TƯ ĐCSLX (xem: "Sự tan ră. Nó đă chín muồi như thế nào trong "hệ thống xă hội chủ nghĩa thế giới", tác giả V. Medvedev, nguyên ủy viên BCT, bí thư TƯ ĐCSLX thời Gorbachev, M.1994, tr.19). Trong cung cách Stalin giải tán QTCS, ta thấy rơ toàn bộ tính chất bù nh́n, bung xung, đầu sai của tổ chức nàỵ

Đến năm 1947, Stalin thấy cần có một tổ chức quốc tế để phối hợp lực lượng cộng sản thế giới dưới sự chỉ huy của ĐCSLX, hơn nữa ông ta muốn các ĐCS cầm quyền, nhất là ở Đông Âu, đều thống nhất (unification) chế độ của ḿnh theo một mẫu mực chung, nên mùa thu năm ấy một tổ chức bao gồm 9 ĐCS Âu châu (Liên Xô, Nam Tư, Bulgaria, Rumanie, Hungaria, Ba Lan, Tiệp Khắc, Pháp và Ư) gọi là "Cục thông tin quốc tế" (Kominform) đă được lập ra. Có thể nói, Kominform có tham vọng trong chừng mực nào đó kế tục sự nghiệp của QTCS (Komintern).

Cái mẫu mực chung mà Stalin muốn phổ biến cho các nước dưới quyền cai trị của các ĐCS cố nhiên là mô h́nh xô-viết. Nhưng Tito và một số lănh tụ ĐCS ở Đông Âu ngay từ đầu đă cảm thấy không thể rập khuôn theo mô h́nh chế độ xô-viết đươ.c. Gomulka hồi đó đă nói đến "con đường Ba Lan" tiến tới chủ nghĩa xă hội; những người cộng sản Bulgaria cũng nói khéo nước họ là "cộng ḥa nhân dân" chứ không phải là "cộng ḥa xô-viết"; nhà hoạt động Hungarie Rivai nói: ở Hungarie mà tính chuyện thành lập nông trang tập thể (kolkhoz), tức là "việc làm của bọn khiêu khích và phá hoại"... Một điều nên nhắc lại là sau thế chiến thứ hai, uy tín của Tito và ĐCS Nam Tư (tên chính thức là Liên minh những người cộng sản Nam Tư)ø rất lớn, chỉ đứng sau Stalin và ĐCSLX mà thôi. V́ ĐCSNT dưới sự lănh đạo của Tito đă kiên cường "đơn thương độc mă" chiến đấu chống quân phát xít Đức-Ư và tự ḿnh giải phóng đất nước. Cho nên lúc đầu trong Kominform ảnh hưởng của ĐCSNT khá lớn. Điều đó, cố nhiên, không làm Stalin thích thú. Hơn nữa, Stalin muốn ép Nam Tư rập khuôn theo mẫu mực xô-viết của ḿnh và gặp phải sự chống đối của Nam Tư. Đó là nguồn gốc sâu xa của những xung đột giữa Stalin và Tito, giữa hai ĐCS và hai nước Liên Xô và Nam Tư. Tháng 6.1948, dưới sự đạo diễn của Stalin, Kominform đă họp ở Bucarest gồm đại biểu 8 ĐCS (Nam Tư không đến họp) để buộc tội những người lănh đạo ĐCSNT là theo "chủ nghĩa dân tộc" và khai trừ ĐCSNT ra khỏi Kominform. Về sau Stalin c̣n mở một chiến dịch lớn bôi nhọ "bè lũ xét lại Nam Tư đứng đầu là Tito", thậm chí vu khống Tito là "gián điệp", "tay sai của đế quốc". Hầu hết các ĐCS trên thế giới đă hùa theo Stalin và Kominform để chống Tito và cô lập Nam Tư. Thế nhưng, Nam Tư vẫn tồn tại, c̣n Kominform, một tổ chức bị bại liệt bẩm sinh, không có sức sống, nên lần hồi đă lặng lẽ chết không kèn không trống (xem: "Lịch sử Liên Xô" của sử gia người Ư nổi tiếng Giuseppe Boffa, t.2, bản tiếng Nga, tr. 361-363).

Dù QTCS không c̣n nữa mà Kominform th́ èo uột, nhưng Stalin vẫn dựa vào uy lực cá nhân của ḿnh cũng như sức mạnh quân sự của Liên Xô để điều khiển các ĐCS "đàn em" và cố sức mở rộng phạm vi ảnh hưởng của đế quốc cộng sản. "Bàn tay Moskva" đă can thiệp vào việc nội bộ và nhen nhóm các cuộc nội chiến ở Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, v.v... đă dựng lên cái gọi là "chế độ dân chủ mới" với những chính phủ bù nh́n ở Đông Âu, Bắc Triều Tiên, đă giúp chủ nghĩa cộng sản bành trướng ở Trung Quốc, Việt Nam, v.v...

Cũng nên nhắc đến mưu đồ của Stalin và Mao Trạch Đông gây ra chiến tranh Triều Tiên hồi năm 1950 với mưu đồ thôn tính Nam Triều tiên đă gieo rắc biết bao tang tóc, xương máu cho người dân. Đó là chưa nói đến việc Stalin hồi đầu thập niên 50 đă có một kế hoạch chuẩn bị tấn công "giải phóng" châu Âu mà nhà sử học Tiệp Khắc Karel Kaplan đă phát giác trong sách "Dans les Archives du Comité Central. Trente ans de secret du Bloc soviétique" (tr.165-167). Cuối những năm 40, Stalin nhận định t́nh h́nh thế giới và đi đến kết luận: nửa đầu thập niên 50 sẽ là thời điểm thuận lợi nhất để giáng một đ̣n quyết định vào châu Âu tư bản chủ nghĩa và thiết lập ở đấy chế độ xă hội chủ nghĩa. Để thực hiện âm mưu này, cần phải kiềm chế được Hoa Kỳ, và Liên Xô ra sức chạy đua vơ trang trong lĩnh vực nguyên tử, đến năm 1949 Liên Xô đă có được bom nguyên tử. Theo tài liệu bí mật lưu trữ ở ĐCS Tiệp Khắc mà Kaplan công bố th́ hồi tháng 1.1951, Stalin, Molotov đă họp bí mật với lănh tụ và chỉ huy quân sự cao cấp những nước cùng phe ở Đông Âu bàn về việc chuẩn bị trong ṿng 3-4 năm thực hiện kế hoạch tấn công "giải phóng" châu Âu (xem: M.Geller và A.Nekrich. "Lịch sử nước Nga (1917-1995)", t.2, tr.67, 68). Về điều phát giác của Kaplan th́ kẻ viết bài này không đủ điều kiện để xác minh, nhưng cũng xin nói rơ là: căn cứ theo tài liệu lịch sử th́ đúng là hồi tháng 1.1951, đă một cuộc hội nghị quan trọng có mặt các tổng tham mưu trưởng và bộ trưởng quốc pḥng các nước "dân chủ nhân dân" Âu châu mà Stalin đă tự thân tham dự để kiểm điểm t́nh trạng sẵn sàng chuẩn bị của lực lượng vơ trang các nước này, và tại hội nghị đó Stalin đă khẳng định là chỉ có thể có được một thời kỳ "tạm nghỉ" 3-4 năm mà thôi để chuẩn bị cho trận chiến đấu mới, v́ ông cho rằng cuộc chiến tranh Triều Tiên mới chỉ là cuộc thử sức đầu tiên của hai địch thủ. Trước khi kết thúc hội nghị, người ta đă kư một hiệp định bí mật, theo đó khi xảy ra chiến tranh, các đồng minh của Liên Xô có trách nhiệm phải chuyển giao quân đội của ḿnh dưới quyền chỉ huy trực tiếp của bộ chỉ huy xô-viết. Đồng thời, người ta cũng đă duyệt lại một cách căn bản các kế hoạch kinh tế của các nước "dân chủ nhân dân" nhằm tăng cường phát triển hơn nữa công nghiệp nặng và công nghiệp quân sự (chính việc này đă gây ra sự mất cân đối trầm trọng sau này trong nền kinh tế của các nước này, nhất là đối với nông nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng). Công việc đang khai triển th́ đến tháng 3.1953, Stalin chết, nếu không th́ những kế hoạch phiêu lưu của kẻ độc tài sẽ c̣n gây thêm biết bao núi xương và sông máu nữa cho nhân loại để thực hiện mục tiêu cuối cùng của PTCSQT.

E. "Cống hiến" của Mao Trạch Đông vào việc xây dựng ĐCS

Sau những trận tranh quyền quyết liệt trong nội bộ ban lănh đạo, cuối cùng Mao Trạch Đông đă giành được quyền lực trong ĐCS hồi năm 1935. Việc đầu tiên họ Mao nghĩ đến là làm sao nắm chắc được "công cụ đảng" trong tay ḿnh. Sống trong hoàn cảnh một nước Á châu không có chút truyền thống dân chủ nào mà mang nặng văn hóa phong kiến, Khổng giáo, Mao và phe cánh hiểu được sự cần thiết phải khai thác triệt để đầu óc sùng bái và tuân phục của thần dân đối với "thiên tử", cho nên đă đặc biệt coi trọng việc "tẩy năo" và "nhồi sọ" trong đảng, quân đội và trong dân chúng. Điều đó họ gọi là "công tác tư tưởng", với mục tiêu làm cho mỗi đảng viên cộng sản, cũng như mỗi thần dân trong chế độ "xă hội chủ nghĩa" mất hết cá tính, mất hết năng lực và thói quen tư duy độc lập, làm cho toàn ĐCS, toàn dân Trung Quốc sùng bái, thần thánh hóa đến độ cuồng tín để biến trên 600 triệu người sẽ trở thành một "công cụ" dễ bảo, một cái "đinh ốc bé tí" trong tay họ Mao và ĐCS. Để đạt được cái mục tiêu đó, Mao và phe cánh đưa ra một phương pháp gọi là "chỉnh phong". Qua quá tŕnh "chỉnh phong", đảng (và cả công an mật vụ) nắm được "tư tưởng" của đảng viên, đoàn viên, cán bộ, quân nhân... để tiến hành "đấu tranh tư tưởng" và "cải tạo tư tưởng" cho những người bất đồng chính kiến. Thông thường những cuộc chỉnh phong đều kèm theo những cuộc đấu đá, xỉ vả, lăng nhục, đày ải cán bộ, trí thức về nông thôn để "lao động cải tạo" hay thậm chí bắt bớ, tù đày cán bộ, trí thức trong các "trại lao cải", một kiểu GULAG made in China. Chỉnh phong là "cống hiến" độc đáo nhất của họ Mao vào "kho tàng chủ nghĩa Marx-Lenin" mà nhiều ĐCS châu Âu, châu Mỹ không thể nào hiểu nổi và học nổi!

Họ Mao c̣n có một "sáng kiến" nữa là khi cầnđấu tranh giành và giữ quyền lực, ông ta không ngần ngại huyđộng quần chúng cuồng tín chống lại ĐCS: khi phátđộng làm "đại cách mạng văn hóa" ôngđă cho "hồng vệ binh" "tạo phản" nă súng bắn vàođảng mà ông ta gọi là "bộ tham mưu xét lại, hữu khuynh". Về thực chất cũng như hậu quả, cuộc "đại cách mạng văn hóa" của Mao không khác mấy cuộc "đại khủng bố" 1937-1938 của Stalin.


 Home                                                                   Xem Tiếp >>>>