4. Phản Ứng Của Nông Dân Đối Với Hợp Tác Xă
Cấp Thấp
Sau khi đa số nông dân dại dột nghe theo Đảng
để vào hợp tác xă cấp thấp, cuộc đời của
họ tuy được sống trong những năm ḥa b́nh và
ổn định hơn thời đấu tranh sắt máu trước
đó, nhưng điều kiện làm việc thật là khắt
khe và sự thu hoạch về cho gia đ́nh không đủ số
dù đă làm việc như trâu ḅ. Hơn nữa, họ hoàn
toàn mất hết quyền tư hữu, quyền tự do, lại
thêm bị nhồi sọ ngày đêm về chính trị riết
rồi phát khùng. Nông dân nh́n ra hợp tác xă
không nhằm mục đích giúp đỡ dân, mà thực ra
là để bóc lột dân đến kiệt quệ, và họ đă
phản ứng.
Nhưng rút kinh nghiệm của cuộc đấu tranh cải
cách ruộng đất, những nông dân bất măn không
dám tỏ ra chống đối hoặc vi phạm những quy
luật chính trị mà chỉ dám phản ứng trong phạm vi
có thể được. V́ Đảng nói rằng không ép buộc
mọi người vào hợp tác xă nên những nông dân
bất măn đă làm đơn rút ra khỏi hợp tác xă.
Có hai loại gia đ́nh xin ra khỏi hợp tác xă.
Loại thứ nhất gồm những gia đ́nh có đông
người mạnh khỏe, có trâu ḅ, và họ lại là
những người lao động giỏi, siêng năng. Nhưng ở
trong hợp tác xă dù làm giỏi, dư công điểm cũng
phải bán hết số thu hoạch cho nhà nước theo chế
độ "thu mua".
Loại thứ hai gồm những gia đ́nh thiếu người
lao động giỏi, nên vụ mùa nào cũng thiếu điểm,
mang nợ liên tiếp trong nhiều mùa, mà c̣n bị
nhục mạ là lười biếng, ích kỷ, không tích cực
đối với quyền lợi tập thể.
Khi những cá nhân riêng lẻ này rút ra khỏi hợp
tác xă th́ họ đă hành động đơn phương chứ
không dám rủ nhau, nhưng v́ nhiều người đơn
phương rút ra nên t́nh cờ đă biến thành phong
trào xảy ra khắp nơi, làm cho nhiều hợp tác xă
phải giải tán. Ví dụ ở vùng B́nh Cát, Thanh Thủy,
Thanh Hóa, Việt cộng phải giải tán 3 hợp tác xă ^.t để gom lại
làm một. Ở vùng Xích Thổ, Ninh
B́nh, nhiều hợp tác xă phải giải tán toàn bộ
để tổ chức lạị
Đối với khu tự trị Thái Mèo, v́ đồng bào
thiểu số chống đối mạnh nên cho măi tới năm
1964 vẫn chưa tiến lên được hợp tác xă cấp
thấp. Nói chung trên toàn miền Bắc trước kia
vẫn có một số nông dân đứng ngoài hợp tác
xă và Việt cộng vẫn để yên cho họ sống.
Những người này trao đi đổi lại những sản
phẩm với nhau và làm thành một thứ thị trường
ngoài hợp tác xă mà ta gọi là thị trường tự do
và chợ đen.
Việt Cộng Đối Phó Ra Saỏ
Khi những người xă viên rút ra khỏi hợp tác xă,
lối làm ăn cá thể và thị trường tự do đột
nhiên lớn hẳn lên và đe dọa quyền lực Đảng,
do đó Việt cộng chỉ thị cho các chính quyền
địa phương và ban quản trị hợp tác xă phải có
biện pháp đối phó. Có ba biện pháp chính
được áp du.ng.
Biện pháp tuyên truyền giáo dục và dùng đoàn
viên vận động với gia đ́nh
Đối với các đoàn viên (chưa phải là đảng
viên) có gia đ́nh ra khỏi hợp tác xă, Đảng và
Đoàn áp dụng biện pháp kỷ luật như phê b́nh
kiểm thảo, áp lực để đoàn viên dùng t́nh cảm
lôi kéo gia đ́nh trở lại hợp tác xă. Nếu không
thành công có thể dùng biện pháp khai trừ khỏi
Đoàn.
Biện pháp này cũng không đạt nhiều kết quả, và
Việt cộng phải tiến thêm một bước nữạ
Biện pháp cấp thẻ xă viên
Thẻ xă viên có công dụng cho xă viên có thể mua
đồ dùng hay thực phẩm ở Mậu Dịch Quốc Doanh.
Biện pháp này tương đối hữu hiệu hơn, v́ đa
số xă viên sống bằng nông nghiệp, nên khi ra
khỏi hợp tác xă chỉ có thể cấy lúạ Nhưng khi
muốn có muối ăn, vải mặc, họ phải tới cửa
hàng mậu dịch Diêm-Nghiệp hoặc mậu dịch của
hợp tác xă dệt vải để muạ (các ngành này
đều được tổ chức thành hợp tác xă). Nếu
không có thẻ xă viên th́ không mua được muối
được vảị Biện pháp này tương đối có hiệu
quả hơn và đă buộc nhiều người quay trở vào
hợp tác xă.
Biện pháp khoanh vùng
Nói chung, đối với những xă viên ra khỏi hợp
tác xă, ban quản trị phải trả lại đất. Nhưng v́
những bờ ruộng đều phá hết cả, nên không ai
có thể nói rằng đất cũ của ḿnh ở đâụ Lợi
dụng t́nh trạng này, hợp tác xă đă đưa ra biện
pháp khoanh vùng để bóp chết những nông dân
nàỵ Hợp tác xă đă dành những mảnh đất thật
xấu hoặc ở những vùng cao không có nước, lại
bị ruộng của hợp tác xă bao vây, muốn lấy
nước vào ruộng không được v́ hợp tác xă
không cho nước chảy quạ Cuối cùng nhiều người
đành phải trở vào hợp tác xă, và tất cả đều
phải bị phạt công điểm rất nă.ng.
Cũng vào khoảng mùa Đông 1957, miền Bắc bị mất
mùa rất trầm trọng, khắp nơi bị đói, và Đảng
đă tổ chức cứu trợ, nhưng chỉ cứu những
người ở trong hợp tác xă mà thôị Dĩ nhiên,
những ai ở ngoài hợp tác xă nếu muốn khỏi
chết đói th́ phải gia nhập hợp tác xă. Thật ra
nếu năm 1957 không có nạn đói th́ sớm muộn ǵ
cũng có một nạn đói khác để giúp Đảng thanh
toán hợp tác xă cấp thấp v́ từ năm 1956 tới
1968 miền Bắc đă trải qua 7, 8 lần mất mùa đói
kém.
Tại những nơi mà đa số nông dân bị bắt buộc
phải quay trở lại hợp tác xă, Đảng bèn thừa
thắng xông lên, đẩy mạnh phong trào Hợp Tác Xă
Cấp Caọ Điển h́nh là tại làng Hàm Cách lúc này
nông dân đă hoàn toàn bị đoàn ngũ hóa và Đảng
đề ra chiến dịch cải tiến đợt I với khẩu
hiệu "công hữu hóa ruộng đất trâu ḅ", và
thanh toán nốt số 5% hoa mầu mà nông dân được
hưởng trong hợp tác xă cấp thấp.
oOo
Trong giai đoạn hợp tác xă cấp cao, Đảng đă gia
tăng năng xuất nông dân như thế nào, và nông
dân "sung sướng" như thế nào, đó là điều
chúng ta sẽ nghiên cứu trong kỳ tớị
Cải cách ruộng đất Miền Bắc (7)
Xây Dựng Lực Lượng Để Chuẩn Bị Xâm Chiếm
Miền Nam
Ngày 21-7-1954, trong buổi họp kết thúc hội nghị
Genève, Phạm Văn Đồng tuyên bố sẽ đạt tới
thống nhất như đă chiến thắng nước Pháp.
Ngày hôm sau, 22-7-1954, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh
sự quyết tâm này bằng cách công khai kêu gọi
nhân dân miền Bắc đấu tranh gian khổ và
trường kỳ để chiếm cho được miền Nam, mà họ
Hồ gọi là "lănh thổ của chúng ta". Để có thể
chiếm được miềnNam, Việt cộng phải củng cố
ách thống trị trên miền Bắc, một công việc mà
Hồ Chí Minh gọi là "Xây Dựng Xă Hội Chủ Nghĩa".
Sau cuộc Cải Cách Ruộng Đất, Việt cộng đă
đoàn ngũ hóa được khối nhân lực ở nông
thôn. Đồng thời cuộc cải tạo tư bản tư doanh,
đưa đến công tư hợp doanh, và biến thành quốc
doanh cùng hợp tác hóa nông nghiệp, đăng kư hộ
khẩu giúp nhà nước cộng sản đoàn ngũ hóa
được khối nhân lực thành thi.. Tổng cộng trong
những năm sau đó, Việt cộng đă động viên
được một khối nhân lực lao động lên tới
9.600.000 người dưới sự lănh đạo sản xuất của
nhà nước. Họ làm đêm làm ngày, tăng gia sản
xuất, "một người làm việc bằng hai" để tăng
cường củng cố sức mạnh của chế độc và
chuẩn bị xâm chiếm miềnNam. Tất cả các nỗ
lực của miềnBắc đều dồn vào việc thực
hiện hai mục tiêu trên.
Tháng 2 năm 1957, Việt cộng triệu tập Đại Hội
Trung Ương Đảng Lao Động khóa 12 để thông qua
kế hoạch nhà nước năm 1957, và để tăng cường
quốc pḥng.
Tháng 4 năm 1960, quốc hội bù nh́n Việt cộng
thông qua đạo luật động viên thanh niên miền
Bắc mà Việt cộng gọi là đạo luật về Nghĩa
Vụ Quân Sư..
Đó là những nét đại cương về đường lối
chính sách trên phương diện quân sư.. Nh́n lại
thực tế th́, vào thời điểm 1955 sau khi chiếm
được miềnBắc, cuộc chiến tranh chống Pháp
đă để lại cho Việt cộng một quân đội tuy
háo chiến nhưng c̣n yếu kém về tổ chức và kỹ
thuật hiện đạị Muốn xâm lăng miềnNam, Việt
cộng cần cải tổ lại quân đội đó. Công tác
này được gọi là "công cuộc xây dựng quân
đội chính quy miền Bắc" mà ta sẽ nói ở phần
saụ Nhưng công tác này không đ̣i hỏi nhiều th́
giờ cho bằng công tác xây dựng kinh tế
miềnBắc, v́ muốn vơ vét nhân lực miền Bắc,
cộng sản đă lợi dụng luôn lực lượng quân
đội làm cái khung cho công việc sản xuất, và
chuẩn bị các cơ sở có tính cách phục vụ cho
một cuộc chiến tranh lâu dàị Với ư niệm trên,
trong chương này, chúng ta sẽ nghiên cứu 3 chủ
đề chính:
- Tổng Biên Chế quân đội miềnBắc.
- Xây dựng các công tŕnh sản xuất chiến lược,
cơ sở quân sự và xa lộ chiến lược.
- Xây dựng lực lượng chính quy Việt cộng trong
đó có công tác hiện đại và công tác chính trị
hóa quân độị
Ị Tổng Biên Chế Quân Đội Miền Bắc
Năm 1956 Phạm Văn Đồng "đệ tŕnh" lên quốc
hội bù nh́n Việt cộng dự luật "Giảm Trừ Quân
Bị". Nguyễn Ngọc Mai, một hồi chánh viên thuật
lại:
"Theo dự luật này, Việt cộng nói rằng sẽ giảm
bớt 80.000 bộ đội chính quy, và tuyên truyền
ầm lên rằng miềnNam vi phạm hiệp định Geneve,
không chịu Hiệp Thương Tổng Tuyển Cử". Thực
chất của vấn đề là Việt cộng miền Bắc dùng
dự luật Giảm Trừ Quân Bị làm b́nh phong cho
chính sách Tổng Biên Chế Quân Đội Miền Bắc.
Danh từ Tổng Biên Chế có nghĩa là chuyển một
cách quy mô số 80.000 quân đội từ công tác
chiến đấu sang công tác sản xuất mà vẫn duy
tŕ khả năng vơ trang. Danh từ Tổng Biên Chế
khác với danh từ Phục Viên của Việt cộng dùng
để chỉ việc giải ngũ quân đội cho họ trở
thành thường dân. Phục viên có nghĩa là về
vườn (mượn của Tàu).
Điểm chủ yếu của chính sách Tổng Biên Chế
quân đội Miền Bắc là quân đội đóng vai tṛ
chính trong mọi công tác sản xuất, làm thành phần
tiên phong để xây dựng nhất là ngành công
nghiệp và nông nghiệp. Sau chiến dịch sửa sai và
ổn định t́nh h́nh chính trị, ổn định t́nh h́nh
an ninh lănh thổ. Việt cộng đặt một kế hoạch
ba năm (1957,1958,1959) ổn định kinh tế với mức
yêu cầu là phải đạt được nền kinh tế 1939
(Việt cộng lấy tiêu chuẩn năng suất canh nông
của năm 1939 là năm tấn mỗi hectare). Chính sách
Tổng Biên Chế quân đội mang phần lớn nhân
lực của quân đội Việt cộng ra thực hiện công
tác phục hồi kinh tế và chỉ giữ lại một số
quân thường trực để đáp ứng t́nh h́nh.
1. Sự lợi hại của chính sách Tổng Biên Chế
Chính sách Tổng Biên Chế đă giải quyết một
lúc hai vấn đề gai góc: - Thứ nhất là các đơn
vị Miền Nam ra tập kết ngoài Bắc, sau công tác
đàn áp di cư và Cải Cách Ruộng Đất, trở nên
dư thừa và có nhiều bộ đội tập kết thất
vọng v́ Hồ Chí Minh không thực hiện được sự
thống nhất đất nước qua một cuộc tổng
tuyển cử như đă hứa hẹn long tro.ng. Không
thống nhất được đất nước, nghĩa là sau 2
năm xa cách miền Nam những bộ đội tập kết ra
Bắc nh́n thấy hy vọng được phép về đoàn tụ
với gia đ́nh trở nên quá mờ mịt. Trong 5 năm hay
10 năm, chưa chắc đă gặp lại thân nhân c̣n ở
lại miền Nam, việc "hội nhập" một số đông
đảo thanh niên gốc miền Nam ở đất Bắc là
một vấn đề khó khăn, gây nhiều áp lực tâm
lư trên tập thể nàỵ
Đề ra chính sách Tổng Biên Chế, Việt cộng
hứa hẹn sẽ xây dựng gia đ́nh cho các anh em bộ
đội tập kết bằng cách đưa anh em đi khai phá
miền thượng du lập nông trường, nơi mà nhà
nước gọi là "quê hương mới". Khi đă đưa anh em
tới nơi khai phá nông trường, một mặt nhà
nước hứa hẹn xây dựng vợ con cho bộ đội,
một mặt ra lệnh cho Tỉnh uỷ địa phương tuyển
mộ những thiếu nữ địa phương từ 18 tới 25
tuổi vào làm công nhân trong nông trường. Các
nữ công nhân này khi đă vào trong nông trường
mới biết rằng ḿnh không được phép ra khỏi
nông trường, v́ lệnh trên truyền xuống là bất
cứ nữ công nhân nào muốn ra nông trường phải
có giấy phép của "chồng" . Như vậy họ chỉ c̣n
có cách lấy bộ đội tập kết chứ c̣n cách
nào khác nữa! T́nh trạng này đă đưa đến
những sự mâu thuẫn giữa bộ đội tập kết và
dân chúng địa phương, v́ trong số những nữ
công nhân bị đưa vào nông trường, có nhiều
người đă hứa hôn với thanh niên tại địa
phương. Do đó nhiều thanh niên địa phương t́m
đánh bộ đội tập kết v́ cho rằng các anh em
tập kết đă chiếm đất lại c̣n chiếm cả vợ
của họ nữạ
Vấn đề gai góc thứ hai là tại Việt cộng có
nhiều nơi ở đồng bằng dân cư quá đông, mà
đất đai cằn cỗi không canh tác được, trong khi
ở miền thượng du nhiều nơi đất c̣n nguyên
mầu mỡ chưa được khai phá. Những người nông
dân Việt Nam rất sợ nơi rừng thiêng nước
độc, vả lại công việc phá rừng lấy đất
trồng trọt là một công tác cực kỳ gian khổ.
Đề ra chính sách Tổng Biên Chế quân đội,
đảng và nhà nước có một lực lượng nhân công
có sẵn tinh thần kỷ luật, chịu đựng gian khổ.
Có nhiều nông trường "quê hương mới" được
bắt đầu thiết lập từ 1957-1958, mà quan trọng
nhất phải kể nông trường Lam Sơn ở Thanh Hóa,
nông trường Đồng Vàng ở Phú Thọ, nông trường
Gỗ Cao-Bắc-Lạng (thuộc ba tỉnh Cao Bằng, Bắc
Kạn và Lạng Sơn).
Tại nông trường Lam Sơn, chính sách Tổng Biên
Chế sử dụng bộ đội của Sư đoàn 338 tập
kết, mỗi tiểu đoàn lấy ra một đại đội
xuất sắc. Sự gian khổ cực nhọc của công việc
khai phá nông trường có khi c̣n vượt quá mức
độ ở nông thôn, nơi giờ lao động hàng ngày
là 12 giờ, từ 6 giờ sáng tới 6 giờ tốị Một
cán binh tập kết thuộc Sư đoàn 338 đă phải
phục vụ tại nông trường Lam Sơn 3 năm từ 1958
đến 1961, kể lại nỗi gian khổ và công tŕnh
trồng cà phê, cao su:
"Công việc khai thác rừng để thành lập nông
trường là một công tác cực nhọc vô biên, không
tả xiết. Từ nhỏ đến lớn, chưa bao giờ tôi
phải làm cực nhọc như thế. Nông trường lấy
tên là nông trường Lam Sơn tại huyện Ḥa Lạc,
tỉnh Thanh Hóa, quê hương vua Lê Lợị Chúng tôi
đến đây phá rừng để trồng cà phê, cao su và
chăn nuôi trâu ḅ gà vịt. Chiến sĩ lúc này trở
thành một tên cu-li, đầu đội nón lá tay cầm
rựa suốt ngày đi chặt cây đốt rừng, cuốc
đất v.v.... Nắng cháy da thịt. Chúng tôi có cảm
tưởng như tù khổ sai bị đầy ải..." (Nguyễn
Văn Hoài). Ngoài Sư đoàn 338 tập kết, tại Nông
trường Lam Sơn c̣n có nhiều đơn vị khác nữa
v́ tổng số bộ đội tập kết tại đây là 39
đại đội, mỗi đại đội phụ trách một khu
rừng và được tăng cường thêm một số công
nhân địa phương.
"Đời sống anh em ḿnh ngày Bắc đêm Nam" đó là
câu nói thường xuyên của các anh em tập kết, có
nghĩa là ban ngày gian lao khổ cực không c̣n th́
giờ suy nghĩ nhưng đêm xuống là tâm hồn bộ
đội tập kết đều hướng về miền Nam nơi gia
đ́nh thân yêu đương sống.
Tại nông trường Đồng Vàng, Phú Thọ, bộ đội
tập kết được tổng biên chế để khai khẩn
nông trường trồng trà và cà phệ Thượng uư
Đặng Anh Kiến thuộc Trung đoàn tập kết 96 từ
An Khê ra Bắc và hoạt động tại nông trường
Đồng Vàng, cho biết hai phần ba trung đoàn và cơ
quan Trung đoàn Bộ được đưa tới nông trường:
"...Lúc mới đầu tuy sản xuất nhưng vẫn giữ
nguyên cách thức tổ chức và điều hành của
quân đội, nhưng về sau, khi nông trường đă
hoạt động đều, h́nh thức quân đội được
xoá bỏ. Anh em bộ đội biến thành công nhân của
nông trường, trực thuộc Bộ Nông Trường. Nghĩa
là họ chính thức thành công nhân, họ ăn lương
theo cấp bậc công nhân nông trường chứ không
c̣n ăn lương của quân đội nữa.... Trong thời
gian khai phá nông trường Đồng Vàng (lúc ban
đầu) chúng tôi vẫn ăn uống theo chế độ cung
cấp của quân đội) 1 ngày là 0.70 đồng (tức là
21 đồng một tháng). Ngoài ra chúng tôi không
được bồi dưỡng thêm ǵ cả. Có thể nói thời
gian này mồ hôi chúng tôi đổ rất nhiều..."
"... Sau khi các nông trường đă hoàn chỉnh, nghĩa
là các nông trường đă bắt đầu hoạt động
th́ nhà nước đẩy các chị em phụ nữ chưa
chồng vào các nông trường. Và sau đó, anh em bộ
đội và chị em phụ nữ xây dựng với nhau thành
những cặp vợ chồng. Trong tinh thần đó các
nông trường dần dần lớn mạnh và trở thành
những trung tâm kinh tế đông dân cư...". Chính
sách Tổng Biên Chế không phải chỉ đem quân đội
vào nông trường, mà nói chung vào tất cả mọi
ngành:
"Nông trường là ngành mà quân đội xây dựng
đến 80% hay 90% Về công nghiệp (công trường)
quân đội cũng chuyển ngành qua xây dựng, như khu
công nghiệp Việt Tŕ là do Trung đoàn 108 thuộc
Sư đoàn 305 xây dựng hoàn toàn, hoặc khu Liên
Hợp Gang Thép Thái Nguyên là do Sư đoàn 316 xây
dựng.... Hoặc công tác cải tạo tư bản tư doanh,
công tư hợp doanh ở thành thị cũng đều do cán
bộ quân đội đảm trách... "Có thể nói quân
đội chiếm trên 90%.Ngay công an dân cảnh Hà Nội
bây giờ, các hầm mỏ, cảng Hải Pḥng". (Đăng Anh
Kiến). Ngoài việc Tổng Biên Chế các đơn vị
chiến đấu chính quy để làm công tác sản xuất,
Việt cộng bắt bộ đội phải thi hành Lời Thề
Thứ 5: "Quân đội làm tṛn trách nhiệm là chiến
đấu và sản xuất" . V́ thế các đơn vị chủ
lực của các tỉnh, hay các đơn vị công binh, cầu
đường sống tại căn cứ, ít di chuyển cũng phải
sản xuất để tự túc cung cấp lương thực một
tháng mỗi năm. Các đơn vị này c̣n phải chăn
nuôi thêm để trực tiếp cung cấp thịt ăn.
2. Các Nông Trường, Công Trường Do Quân Đội
Được Tổng Biên Chế Để Xây Dựng Và Quản Lư
Mặc dầu các cán binh bị đem vào nông trường và
công trường làm công tác sản xuất như một công
nhân viên, họ vẫn phải nằm trong khuôn khổ huấn
luyện quân sư.. Trên toàn miền Bắc có 43 nông
trường, th́ 32 cái được gọi là nông trường
quân đội, trong đó hàng tuần công nhân được
huấn luyện quân sự, và được biên chế vào
các đơn vị đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn
chiến đấụ
Một hồi chánh viên cho biết như sau:
"Mỗi nông trường coi như một trung đoàn tự
vê.. Khi cần thiết họ có thể điều động một
lúc hàng trăm người ra chiến đấu ngay được,
ví dụ cụ thể năm 1961, nông trường Rạng Đông
tỉnh Nam Định thuộc Quân khu Hữu Ngạn Sông Hồng
điều động một lần được 300 sĩ quan và binh
sĩ đi chiến đấu ở chiến trường B (miền Nam)
chiến trường C (Lào) và sau đó mỗi quư, mỗi 6
tháng hay một năm lại điều động một loạt cho
đến khi hết cựu sĩ quan và binh sĩ ở nông
trường mới ngưng lạị Như vậy mục đích họ
thành lập nông trường Quốc doanh do bộ đội
chuyển ngành sang (Tổng Biên Chế) là để giữ
lượng cựu sĩ quan và binh sĩ lại để vừa sản
xuất kinh doanh vừa huấn luyện quân sự, và khi
cần thiết có thể điều động ngay ra chiến
trường chiến đấu...". Các nông trường c̣n là
nguồn bổ sung lực lượng trừ bi.. Đó là các
thanh niên được tuyển từ các thành phố, thị
xă hoặc các vùng nông thôn vào làm công nhân
trong nông trường. Một khi đă vào nông trường,
họ bị khép vào kỷ luật quân đội, kỷ luật tập
thể, phải học tập chính trị và bị nhồi sọ
bằng tư tưởng Mác-xít.
Trên phương diện an ninh diện địa, các nông
trường c̣n có nhiệm vụ pḥng thủ biên giới,
bờ biển và các vị trí trọng yếu như ta sẽ
thấy trên bản đồ dưới đâỵ
(xem bản đồ)
- Hai tỉnh Sơn La, Lai Châu ở phía Tây-Bắc của
Việt cộng có 2 nông trường Điện Biên Phủ và
nông trường Mộc Châu do hai trung đoàn thuộc Sư
đoàn 305 tập kết và 316 đóng giữ.
- Tỉnh Sơn Tây có nông trường Xuân Mai do một
trung đoàn của Sư đoàn 338 tập kết trấn đóng.
- Tỉnh Thanh Hóa có nông trường Sao Vàng do một
trung đoàn của Sư đoàn 338 quản trị, cùng với
nhiều đơn vị khác, tổng cộng 39 đại đội tập
kết (tương đương một Sư đoàn).
- Tỉnh Nam Định có nông trường Rạng Đông do Trung
đoàn độc lập 269 quản tri..
- Tỉnh Ninh B́nh có nông trường B́nh Minh do Trung
đoàn độc lập 271 quản tri..
- Tỉnh Nghệ An có các nông trường Sông Con, Đông
Tây Hiếu do một trung đoàn của Sư đoàn 324 tập
kết quản tri..
- Tỉnh Quảng B́nh có nông trường Lệ Thủy do một
trung đoàn của Sư đoàn 325 tập kết quản tri..
- Tỉnh Phú Thọ có nông trường Đồng Vàng do Trung
đoàn tập kết 96 (từ An khê ra Bắc) quản tri..
- Khu công nghiệp Việt Tŕ do Trung đoàn 108 thuộc
Sư đoàn 305 tập kết quản tri..
- Khu Liên Hợp Gang Thép Thái Nguyên do Sư đoàn 316
xây dựng và quản tri..