IV. Những Đặc Điểm Của Giai Đoạn Cải Cách 
Ruộng Đất 1951-1956 Đưa Đến Chiến Dịch Sửa 
Sai 


Những nỗ lực và những hoạt động của cộng 
sản nhằm dành giựt quyền lực hoặc từ vai tṛ 
có quyền lực trong tay để đàn áp quần chúng 
nhân dân, tất cả đều là những nỗ lực và 
hoạt động của chiến tranh mặc dầu nhiều khi 
không có tiếng súng nổ. Đó là cuộc chiến tranh 
diễn ra từ 1951 tới 1956 phối hợp hai loại đặc 
điểm nổi bật: 

- Những đặc điểm có tính cách chiến tranh phi 
quy ước 

- Những đặc điểm có tính cách Mác-xít 
Lênin-nít điển h́nh 

Nếu ta c̣n nhớ những đặc điểm của chiến 
tranh phi quy ước trong bài nghiên cứu đầu tiên 
đại cương về chiến tranh quy ước và phi quy 
ước, ta sẽ thấy lại những đặc điểm này trong 
cuộc cải cách ruộng đất của giai đoạn 1951-1956. 

1. Dựa vào lực lượng quần chúng 

Đây là một đặc điểm điển h́nh của chiến 
tranh phi quy ước cũng như của chiến dịch Đấu 
Tranh Chống Phản Động, Đấu Tranh Giảm Tô, Đấu 
Tranh Cải Cách Ruộng Đất. Để tiêu diệt mầm 
mống chống đối, Việt cộng đă không sử dụng 
biện pháp pháp lư, biện pháp hành chánh, hay sử 
dụng cảnh sát công an, quân đội, mà đă huy 
động nông dân, bằng cách nhóm Đại Hội Nông 
Dân, dùng các "đội đấu tố" và "đội cải 
cách" xâm nhập vào dân để xách động dân, làm 
như thể nông dân đứng chủ động đ̣i tiêu 
diệt phản động, tiêu diệt địa chủ. Việt cộng 
c̣n công khai giải tán hệ thống hành chánh xă 
trong giai đoạn "đội cải cách" về làng phát 
động đấu tranh, bề ngoài làm như đề cao 
quyền lực của nông dân, nhưng thực sự bên trong 
là gán ghép trách nhiệm cho dân, làm cho bàn tay 
nông dân có dây máu địa chủ, nghĩa là nếu họ 
không có chủ động th́ ít ra cũng là kẻ đồng 
lơa tội ác.Ta.i sao họ Hồ lại cần có liên minh 
tội ác đó? Theo sự suy đoán của các hồi chánh 
viên có liên hệ tới cải cách ruộng đất th́ 
một trong những lư do có tính cách chiến lược 
là tương quan lực lượng giữa Đảng và giới 
địa chủ, phú nông, trung nông và tất cả nông dân 
hữu sản cho thấy Đảng là thiểu số. Quan niệm 
dựa vào lực lượng quần chúng vừa là một 
đặc điểm của chiến tranh phi quy ước lại vừa 
phù hợp chủ trương cố hữu của cộng sản và kỹ 
thuật đấu tranh của cộng sản. chủ trương của 
cộng sản là tiêu diệt tư hữu, tiêu diệt tư 
sản, tất nhiên phải tiêu diệt địa chủ là những 
phần tử tư sản "ngoan cố" nhất. Kỹ thuật đấu 
tranh của cộng sản là "lấy mâu thuẫn giải quyết 
mâu thuẫn": nghĩa là Tạo ra mâu thuẫn giữa các 
lực lượng thù địch đẩ các lực lượng này 
tiêu diệt lẫn nhau và cộng sản ngồi rung đùi 
hưởng lợị Đó là chiến lược xúi Ngô đánh 
Ngụy để ḿnh lấy ngon đất Kinh Châu (Tam Quốc 
Chí). Áp dụng vào trường hợp đấu tranh cải 
cách ruộng đất, "lấy mâu thuẫn giải quyết mâu 
thuẫn" là lấy bần cố nông giải quyết bài toán 
địa chủ. Nếu dùng biện pháp pháp lư để cải 
cách ruộng đất như các nước Á Châu khác, 
Việt cộng phải quốc hữu hóa hoặc mua rẻ ruộng 
đất của địa chủ rồi chia cho nông dân, như thế 
đích thân Đảng phải đối phó với khoảng 1 
triệu người thuộc thành phần địa chủ phú nông 
và trung nông, mà trong đó có nhiều người có 
công với kháng chiến, có uy tín với dân. Tự 
lực đối phó với khoảng 1 triệu có tư sản, 
trong khi đảng viên ṇng cốt của Việt cộng lúc 
đó chưa đầy 500 ngàn người là một việc nguy 
hiểm. 

2. Bất chấp pháp lư, bất chấp quy ước hành 
chánh 

Đây là đặc điểm thứ hai của cộng sản khi áp 
dụng h́nh thái chiến tranh phi quy ước vào cải 
cách ruộng đất. Chẳng những Việt cộng không 
sử dụng các biện pháp pháp lư và các quy ước 
hành chánh thông thường, mà chúng c̣n trắng 
trợn vi phạm các nguyên tắc pháp lư và hành 
chánh được coi là khuôn mẫu để duy tŕ trật 
tự quốc gia và xă hội của các nước văn minh 
từ 400 năm quạ 

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, qua bài diễn văn 
đọc ngày 30-10-1956 trong một cuộc họp của Mặt 
Trận Tổ Quốc Hà Nội, đă nêu lên những vi 
phạm nguyên tắc pháp lư, trong Cải Cách Ruộng 
Đất: 

a) Nguyên tắc thứ nhất: Không hành phạt các tội 
đă phạm quá lâu rồi mới bị khám phá v́ khó 
xác định các bằng chứng buộc tộị Khi buộc 
tội một người với những bằng chứng hồ 
đồ, xă hội sẽ tạo ra những tiền lệ bất công 
làm mất uy tín của cơ chế cầm quyền và gây 
xáo trộn xă hộị Việt cộng đă vi phạm thô bạo 
nguyên tắc thư nhất khi mớm cung cho những bần 
cố nông vu oan gia họa cho nạn nhân Cải Cách Ruộng 
Đất về những tội đă phạm từ mấy chục năm 
trước, dựa vào những bằng chứng hồ đồ (như 
hồi chánh viên Nguyễn Văn Thân đă tường 
thuật). 

b) Nguyên tắc thứ hai: Theo lời Luật sự Nguyễn 
Mạnh Tường: Trách nhiệm của phạm nhân th́ chỉ 
một ḿnh phạm nhân phải chịu, không có trách 
nhiệm chung với vợ con, của gia đ́nh", chỉ trong 
thời đại phong kiến dă man mới có luật tru di 
tam tộc để trừng phạt bà con họ hàng của 
người có tộị Nhưng riêng trong chế độ Việt 
cộng, không những thân nhân của người có tội 
phải trả nợ máu, mà ngay cả những người không 
có liên hệ máu mủ ǵ với nhau mà cũng bị chết 
chùm với nhau v́ mang cái nhăn hiệu chung là địa 
chủ, phú nông. "Kích tỷ lệ" là một vi phạm thô 
bạo của nguyên tăc thứ hai về pháp lư. 

c) Nguyên tắc thứ ba: Theo luật sư Nguyễn Mạnh 
Tường là "muốn kết án một người phải có 
bằng chứng xác đáng. Phải có nhân chứng là 
những kẻ đă mục kích sự phạm pháp và cung khai 
một cách cụ thể, rơ ràng và chắc chắn. Một 
nhân chứng thôi cũng chưa đủ, ít ra phải có hai 
nhân chứng khai phù hợp với nhau, mới được là 
đáng kể... Khi nêu lên nguyên tắc thứ ba trên 
đây, có lẽ ông Nguyễn Mạnh Tường muốn ám chỉ 
những vụ Đấu Giảm Tô như anh Nguyễn Văn Thân 
thuật lại, ví dụ: "Một cái sẹo cũ v́ bị ngă 
từ hồi c̣n bé sẽ được tŕnh bày là vết dao 
chém của địa chủ ác ông... Hoặc nếu một bà 
lăo rụng hết tóc v́ già hay v́ bệnh hoạn th́ sẽ 
dùng chứng tích này để tố địa chủ nắm tóc 
giật đánh", (xem bài trước). Những bằng chứng 
cần thiết để chứng tỏ vết dao chém tối 
thiểu là phải tŕnh bày được con dao có vết 
máu của nạn nhân. V́ bất chấp nguyên tắc thứ 
ba trên đây, trong giai đoạn "Đấu tranh chống 
phản động" đội cải cách của Việt cộng đă 
"mớm cung theo dây chuyền", khiến nhiều nạn nhân 
đă khai lung tung ra ngoài sự dự liệu của cán 
bộ Đảng và làm tṛ cười cho đấu trường cải 
cách, cũng như làm tṛ cười cho lịch sử mai 
hậụ 

d) Nguyên tắc pháp lư thứ tư: "Thủ tục điều 
tra, xét xử phải bảo đảm quyền lợi của bị tố 
nhân. Bị tố nhân có quyền nhờ luật sư bào 
chữa cho ḿnh, và khi thiếu điều kiện nhờ 
luật sư, khi nào là một trọng tội, ṭa phải cử 
luật sư bào chữa không, cho bị can... Khi điều 
tra, thẩm vấn, tuyệt đối không được dùng 
phương pháp tra khảo, đánh đập, hành hạ bị cn, 
mớm cung cho bị can, dọa nạt hay dụ dỗ đương 
sự"... 

3. Thủ Tiêu Chế Độ Pháp Trị Chân Chính 

Một chế độ pháp trị chân chính phải xác định 
rơ đâu là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi 
người từ thường dân cho tới người lănh đạọ 
Việt cộng chẳng những thủ tiêu quyền lợi của 
người dân qua việc bất chấp các nguyên tắc 
pháp lư căn bản, mà c̣n lờ luôn trách nhiệm 
pháp lư của cấp lănh đạo đảng, nhất là họ 
Hồ, tên chủ mưu trong chiến dịch Cải Cách Ruộng 
Đất đẫm máụ Về điểm này ông Nguyễn Mạnh 
Tường viết: ..."Trước hết, bức thư của ông 
Hồ Viết Thắng tự phê b́nh và xin rút lui khỏi 
Mặt Trận Trung Ương chỉ là một giải pháp chính 
trị mà thôi..." "...là một nhà luật học, tôi 
chưa thể nào nhận định được trách nhiệm của 
ông Thắng. Có thể trách nhiệm của ông ấy rất 
lớn, có thể rất nhỏ. Đứng trên tinh thần pháp 
lư, sự nhận tội lỗi của một người không đủ 
để quy định trách nhiệm của người ấy...". 

Lập luận của ông Nguyễn Mạnh Tường có ư nói 
rằng: 

Thứ nhất: Giải pháp hạ tầng công tác Trường 
Chinh và sự từ chức của Hồ Viết Thắng chỉ là 
một giải pháp chính trị, và nếu ngưng ở đó, 
Việt cộng đă cố t́nh xí xóa trách nhiệm pháp 
lư đối với các vụ sát nhân có mưu định rơ 
ràng. Và ông Tường gọi đó là "chính trị lấn 
áp pháp lư". 

Thứ hai: Trách nhiệm của Hồ Viết Thắng có thể 
rất lớn, có thể rất nhỏ, nghĩa là nếu Hồ 
Viết Thắng chỉ là một kẻ thừa hành, th́ cần 
phải truy nguyên ra cái trách nhiệm pháp lư cao 
chót vót là Trung Ương Đảng và Hồ Chí Minh. 
Không xác định quyền lợi cùa người dân và 
trách nhiệm pháp lư của Đảng và nhà nước Việt 
cộng đă thủ tiêu chế độ pháp trị chân chính. 
Mà thủ tiêu chế độ pháp trị chân chính là một 
đặc điểm có tính cách Mác-xít Lênin-nít điển 
h́nh. Và nó là nguyên nhân của bao xương máu, 
chết chóc và đau thương diễn ra trên đất Việt 
Nam từ hơn 30 năm naỵ 

Bài nghiên cứu này kết thúc một giai đoạn đặc 
biệt của Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc, và 
không có nghĩa cuộc cải cách ruộng đất của 
Việt cộng đă chấm dứt khi ruộng đất được 
lấy từ địa chủ để chia cho nông dân nghèọ 
Không! Sau khi chia ruộng cho nông dân nghèo, Việt 
cộng đă từ từ lấy lại hết tất cả ruộng 
đất tài sản của họ qua các chiến dịch Tổ Đổi 
Công, Hợp Tác Xă Cấp Thấp, Hợp Tác Xă Cấp 
Cao,v.v... song hành với các kế hoạch kinh tế 3 
năm, kế hoạch kinh tế 5 năm,v.v.. mà chúng ta sẽ 
nghiên cứu trong những bài tớị 

Trong phần kết luận của bài này, chúng ta hăy 
đưa ra một nhận xét về trách nhiệm chính trị 
và pháp lư của một hành động liên quan đến 
trật tự công cộng và tính mạng của người dân. 

Một người thường dân phạm tội giết người 
phải chịu trách nhiệm pháp lư cho hành động đó. 
Nếu việc giết người có chủ mưu, đó là một 
trọng tội về h́nh sự, và h́nh phạt thường là 
lấy mạng đền ma.ng. Một cấp lănh đạo chính 
trị, nếu giết người có chủ mưu v́ mục đích 
chính trị th́ phải chịu trách nhiệm về pháp lư, 
và sau đó c̣n phải chịu thêm trách nhiệm về 
chính tri.. Trách nhiệm pháp lư càng gia tăng gấp 
bội nếu là tội tàn sát nhiều người với sự 
dự mưu kỹ càng. Một chế độ, một tập đoàn 
thống trị phạm tội tàn sát tập thể cả trăm 
ngàn người cũng phải chịu trách nhiệm chính trị 
và pháp lư như trường hợp chế độ phát xít 
Đức, phát xít Ư và quân phiệt Nhật,v.v... 
Những kẻ lănh đạo, tùy theo trách nhiệm và sự 
dự mưu đều phải đền tội cả về phương diện 
chính trị và pháp lư. Trước hết bị tước hết 
quyền hành chính trị và sau đó lấy mạng đền 
ma.ng. 

Công lư đă được thi hành tại Đức, tại Ư, tại 
Nhật, sau Đệ Nhị Thế Chiến, và trật tự quốc 
gia nhờ đó đă được tái lập tại Đức, tại 
Ư, tại Nhật. Nhưng cũng kể từ sau Đệ Nhị Thế 
Chiến, v́ Liên Xô không bị trừng phạt về những 
tội diệt chủng nên các chế độ cộng sản từ 
Âu sang Á đă thừa kế thủ tiêu nền pháp trị 
chân chính. Chúng phủi tay chối bỏ mọi trách 
nhiệm pháp lư đối với tội ác của chúng v́ 
nhân dân bất lực trước họng súng đàn áp, và 
v́ công lư không có sức mạnh để thực thị 

Ở Việt Nam, Hồ chí Minh và đảng Việt cộng đă 
phạm nhiều tội ác chồng chất. Tội tàn sát 
trong Cải Cách Ruộng Đất chỉ là một trong nhiều 
tội ác tày đ́nh của chúng trong hơn 30 năm quạ 
Mỗi lần gặp khó khăn v́ nhân dân ta đấu tranh, 
chúng lại t́m cách xoa dịu, xí xóa, khi th́ bằng 
chính sách sửa sai, khi th́ bằng chính sách nới 
lỏng các biện pháp kềm kẹp kinh tế, khi th́ 
bằng màn xiệc "đổi mới tư duy". Nhưng luôn 
luôn có nhiều người bị chúng lường gạt, và 
mỗi lần như thế, Việt cộng lại chối bỏ 
được trách nhiệm về tội ác, và trở nên mạnh 
hơn khi những nhóm người hoặc thế lực ngu 
xuẩn giúp chúng cơ hội và phương tiện phục 
hồi sức mạnh để tiếp tục tội ác. 

Ngày nay, dân ta đă thức tỉnh, và đă đấu tranh 
mạnh mẽ buộc Việt cộng phải lănh trách nhiệm 
đối với tội ác của chúng. Dân ta cương quyết 
th́ hành động công lư bằng cách lật đổ chế 
độ Việt cộng và thiết lập một nền pháp trị 
chân chính, nghĩa là bất cứ tập đoàn nào phản 
nước hại dân phải chịu trách nhiệm chính trị và 
pháp lư trước toàn dân, tức là trả lại quyền 
hành chính trị và chịu sự phán đoán của luật 
pháp quốc giạ Nhân Dân Việt Nam coi những biện 
pháp "sửa sai" hoặc "cởi mở" hoặc "đổi mới" 
hoặc "ḥa giải ḥa hợp" là những tṛ xiệc bịp 
bợm để bịp những nhóm người ngu xuẩn, hoặc 
đón gió làm tay sai cho ngoại bang. 



Cải cách ruộng đất Miền Bắc (5) 

* Mục Tiêu Của Hợp Tác Hóa Nông Nghiệp: Khống 
Chế Nông Dân Bắc Việt 

Giai đoạn đấu tố địa chủ và lấy ruộng đất 
chia lại cho bần cố nông chỉ là màn I của tấn 
kịch Cải Cách Ruộng Đất. Mỗi bần cố nông 
được chia một mảnh đất nhỏ, một số nồi 
niêu, xoong chảo, bàn ghế, giường nằm của địa 
chủ, cuốc xẻng cầy bừa, kể cả chổi cùn, rế 
rách. Đối với bần cố nông chất phác, đây là 
một cuộc đổi đời chưa bao giờ họ ngờ tớị 
Trong thời kỳ đấu tố địa chủ, các bần cố 
nông bị xúi giục, bị áp lực của cán bộ Đảng 
đi đến chỗ đồng lơa tội ác nhúng tay vào máu 
địa chủ; nhưng đến giai đoạn sửa sai, họ bị 
trả thù khiến nhiều người phải bỏ nông thôn 
chạy ra thành thị đi ở đơ.. Những người c̣n 
lại biết rằng số phận của họ khá bấp bênh, 
tuy nhiên điều mà họ không ngờ nhất là: Cuộc 
"đổi đời" chỉ cho họ hưởng tài sản chiếm 
được của địa chủ trong một thời gian rất 
ngắn. Họ không biết rằng Đảng cho tay này nhưng 
sẽ lấy lại bằng tay kia với những thủ đoạn 
tráo trở lừa lọc tinh vi, khiến ngay cả những 
người khôn ngoan, có kiến thức hoặc có thế 
lực c̣n không thể ngờ.... Sau khi đă lợi dụng 
bần cố nông để đạt mục tiêu chiến lược giai 
đoạn là đánh gục giai cấp địa chủ, Việt cộng 
dần dần tước hết tài sản của trung nông kể 
cả bần cố nông qua chính sách công hữu hóa toàn 
bộ ruộng đất vườn aọ 

Cuộc cải cách được gọi là "long trời lở 
đất" ở miền Bắc đă đập nát các giai cấp, 
các thế lực ở nông thôn. Đối với giai cấp 
phú nông địa chủ, đó là một kinh nghiệm đẫm 
máu mà họ nhớ và sợ cho đến suốt đờị Đối 
với giai cấp trung nông, tuy chưa nếm mùi đau 
đớn nhục nhă, nhưng họ biết họ chỉ là con cá 
đang nằm trên thớt. C̣n giới bần cố nông, 
những người chất phác, chưa có kinh nghiệm lănh 
đạo, th́ mặc dầu cuộc cải cách ruộng đất ban 
cho họ một số quyền lợi, họ thừa biết người 
đứng chủ mưu là Việt cô.ng. Nhưng họ không thể 
kết hợp thành một lực lượng nào đáng kể. 

Tóm lại, ở nông thôn không có một lực lượng 
nào tồn tại để thách thức quyền lực của 
Đảng. Tất cả chỉ là những cá nhân bị bỏ rơi 
đơn độc, không nơi nương tựa, trừ bần cố 
nông được dựa vào Đảng để hưởng một số 
ưu thế nếu chịu làm tay sai cho Đảng. Khối dân 
chúng nông thôn hoàn toàn tan ră. Mặc dầu có 
chiến dịch sửa sai, phục hồi danh dự cho người 
có công với kháng chiến, nhưng chiến dịch này 
chỉ cứu được một số người c̣n sống trong 
tù, chứ không cứu được cả trăm ngàn người 
đă bị chôn dưới đất. Hơn nữa chiến dịch 
sửa sai không tái lập giai cấp cũ v́ Việt cộng 
xác nhận đường lối cải cách ruộng đất là 
đúng, chỉ có những cá nhân phạm phải sai lầm mà 
thôị 

Sau khi chiến dịch sửa sai đă làm xẹp cơn thịnh 
nộ của quần chúng, Việt cộng phải đối phó 
với Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm. Mặc dầu phong 
trào này có đường lối quy mô (xem cuốn Trăm Hoa 
Đua Nở Trên Đất Bắc) nhưng không có tổ chức 
sâu rộng và không có sức mạnh vũ trang trong tay 
nên sau một thời gian đă bị Việt cộng đàn áp 
thẳng cánh. 

Giải quyết được Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm, 
Việt cộng đă triệt hạ được lực lượng căn 
bản chống lại đường lối vô sản chuyên chính, 
chúng bèn tiến hành luôn giai đoạn kế tiếp của 
Cải Cách Ruộng Đất. Đó là nội dung của bài 
nghiên cứu kỳ nàỵ 

Kể từ cuối năm 1955 và đầu năm 1956, chính 
sách ruộng đất ở miền Bắc của Việt cộng 
đă được lồng vào trong khuôn khổ đường lối 
công hữu hóa tư sản và tư bản được tiến hành 
qua nhiều bước liên tiếp nhau, gọi là những 
"kế hoạch" kinh tế 3 năm hoặc 5 năm. Những kế 
hoạch kinh tế này nhắm vào hai ngành chính là 
Nông Nghiệp và Công Nghiệp (Công nghiệp là danh 
từ Việt cộng để chỉ kỹ nghệ). Ngành Thương 
Nghiệp sẽ bị Việt cộng bóp chết dần theo đúng 
chủ trương đường lối Mác-xít không chấp nhận 
giới thương nhân trung gian trong guồng máy kinh 
tế cộng sản. 

Trong giai đoạn từ 1959 tới 1970, Việt cộng đă 
theo đuổi những kế hoạch kinh tế sau đây: 

- Kế hoạch 3 năm lần thứ nhất (1955-1957). 

- Kế hoạch 3 năm lần thứ nh́ (1955-1960. 

- Kế hoạch hoàn thành và chuẩn bị cho kế hoạch 5 
năm (1960-1961). 

- Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). 

- Kế hoạch 5 năm lần thứ nh́ (1966-1970). 

Trong khuôn khổ nói trên, đợt Cải Cách Ruộng 
Đất đưa đến "sửa sai" là một phần căn bản 
của kế hoạch 3 năm lần thứ nhất. Nó giúp Đảng 
đánh gục giai cấp địa chủ và nhất là các thành 
phần chống đối bị coi là nguy hiểm, để dọn 
đường tiến tới mục tiêu tối hậu là truất 
hữu toàn bộ ruộng đất tài sản của nông dân 
sát nhập vào tài sản Nhà Nước. Làm sao cộng 
sản Việt Nam có thể ăn cướp một cách trắng 
trợn như vậy mà nông dân lại cam chịu đắng cay, 
và thế giới bên ngoài hầu như hoàn toàn không 
biết ǵ hết? Để trả lời câu hỏi trên, ta cần 
đi lần lượt qua các giai đoạn căn bản của chính 
sách Công Hữu Hóa Ruộng Đất: 

- Giai đoạn Tổ Đổi Công. 

- Giai đoạn Hợp Tác Xă Cấp Thấp. 

- Giai đoạn Hợp Tác Xă Cấp Caọ 

Ba bước căn bản nói trên được tiến hành nhịp 
nhàng với các kế hoạch kinh tế 3 năm và 5 năm, 
nhưng có hai đặc điểm rất quan trọng trong việc 
Việt cộng thi hành đường lối chính sách mà ta 
cần nắm vững. 

Thứ nhất: Việt cộng luôn luôn đặt ra những 
thí điểm để cho cán bộ học tập kinh nghiệm 
và dạy lẫn nhaụ 

Thứ hai: Mỗi chính sách, mỗi giai đoạn không 
nhất thiết phải được tiến hành đều khắp 
trên toàn miền Bắc, nhưng tùy thuộc vào điều 
kiện thực tế từng vùng, ví dụ: Chính sách hợp 
tác xă cấp thấp có thể hoàn thành tại một 
vùng và đẩy lên hợp tác xă cấp cao, nhưng nếu 
tại những vùng khác, điều kiện chưa cho phép 
thực hiện hợp tác xă cấp cao, th́ nông dân 
vẫn c̣n ở trong hợp tác xă cấp thấp. T́nh 
trạng này dẫn đến những quy luật không đồng 
đều cho mỗi vùng, chẳng hạn như tiêu chuẩn 
lương thực khác nhau, và thuế nông nghiệp cũng 
khác nhau, cho mỗi vùng. 

oOo

Home                                        Xem tiếp -->