II. Giai Đoạn Đấu Tranh Chính Trị 

Như đă nói trong giai đoạn thi hành Thuế Nông 
Nghiệp, Việt cộng đă dùng đảng viên xúi giục 
một số nông dân, nhất là bần nông làm tá 
điền, gán cho những thửa ruộng mà họ cày cấy 
có một năng suất rất cao, khiến cho người chủ 
đất phải trả một số thuế nhiều khi tới 100% 
hoặc trên 100% số thu hoa.ch. 

Người chủ đất nạn nhân chỉ có hai sự lựa 
chọn, hoặc chịu đầu hàng bằng cách hiến đất 
cho Đảng và Nhà nước (lúc đó c̣n mệnh danh là 
"Chính quyền Kháng chiến"), hoặc ỳ ra đấy v́ 
không đủ sức nộp thuế theo đúng sự đ̣i hỏi 
của Chính sách Thuế Nông nghiệp. Bằng cách thứ 
hai, họ đă tự kết bản án cho ḿnh trong Giai 
đoạn Đấu tranh Chính trị mà Việt cộng gọi là 
"phát động quần chúng đấu tranh chống phản 
động". 

Trong giai đoạn "phát động quần chúng đấu tranh 
chống phản động", Đảng Cộng sản nhắm vào ba 
mục đích chính yếụ 

Mục đích thứ nhất là Đảng dùng bạo lực của 
quần chúng để đánh quỵ bớt một số phần tử 
lừng khừng chống đối nguy hiểm, trong đó có 
một số địa chủ, nhưng Đảng chưa để lộ kế 
hoạch đấu tranh giai cấp hạ địa chủ. Tất cả 
những phần tử bất măn với chính sách của 
Đảng, nhất là chính sách Nông nghiệp đều bị 
quy cho tội "phản động", "thông với giặc". 

Mục đích thứ hai là Đảng chuẩn bị kỹ thuật 
đấu tranh bạo lực, luyện tập cho cán bộ quen 
với các kỹ thuật xâm nhập. khai thác mâu thuẫn, 
đấu tranh bạo động dành cho cuộc Cải cách 
Ruộng đất. 

Mục đích thứ ba là Đảng muốn vơ vét dân công 
và tân binh, đồng thời làm áp lực thu thuế 
Nông nghiệp. Đảng đă đạt được mục đích này 
v́ nhiều người bở vía trước cuộc đấu tranh 
bạo lực đă xung phong đi dân công hoặc đi tân 
binh, giúp Đảng giải quyết được nhu cầu cấp 
bách của chiến tranh. 

Cuộc "phát động quần chúng đấu tranh chống 
phản động" đă lấy đề tài Thuế Nông nghiệp 
và Đảng muốn nhóm họp Đại hội Nông dân để 
nêu câu hỏi: "Tại sao có người chưa thanh toán 
thuế?". 

Anh Nguyễn Văn Thân, một hồi chánh viên, đă kể 
lại một cách tóm lược nội dung một buổi Đại 
hội Nông dân như sau: 

"Chủ tọa của buổi họp là những phần tử nông 
dân cốt cán, nghĩa là đảng viên hoặc cảm t́nh 
viên, và họ đă nắm trong tay một danh sách những 
phần tử cần phải triệt ha.. Khi nêu câu hỏi về 
việc thiếu thuế Nông nghiệp, chủ tọa đoàn kêu 
tên một người thiếu thuế và ra lệnh du kích 
trói nạn nhân lại, treo lên, rồi dùng cực h́nh 
tra tấn, đánh đập, mớm cung để nạn nhân khai 
tội "chủ mưu xúi giục" cho những người có tên 
trong danh sách có sẵn, tức là sổ đen của Đảng. 
Nhờ kỹ thuật này, Đảng đă bắt đầu bằng 
một người thiếu thuế Nông nghiệp mà kết tội 
những phần tử đối lập chính trị nằm trong 
sổ đen, không nhất thiết phải là những người 
thiếu thuế. Và, tất cả những tội nhân, sau khi 
bị đánh đập tra tấn theo kỹ thuật mớm cung, 
lần lượt từ người này chuyền lan tội lỗi 
sang người khác, họ bị giam giữ để chờ ngày ra 
Ṭa án Quân sự Tỉnh". 

Tóm lại, một nông dân thiếu thuế Nông nghiệp 
được dùng làm đầu nối để triệt hạ những 
kẻ đối lập bị Việt cộng mệnh danh là "việt 
gian", "phản động" hay "theo Tây". Đó là điểm 
mấu chốt của phong trào "phát động quần chúng 
đấu tranh chống phản động". 

Cuộc "đấu tranh chống phản động" được phát 
động vào khoảng cuối năm 1952, đầu năm 1953, 
đă làm nông thôn kinh hoàng nghẹt thở. Và kế 
tiếp theo đó, Đảng cho phát động "đấu tranh 
giảm tô" vào khoảng tháng 4 năm 1953. 

IIỊ Đấu Tranh Giảm Tô 

Cuộc "phóng tay phát động quần chúng đấu tranh 
giảm tô giảm tức" là cuộc thí nghiệm thực sự 
của kỹ thuật Cải cách Ruộng đất theo phương 
pháp Cộng sản. 

Để phát động đấu tranh, Đảng tổ chức những 
"Đội đấu tố", gồm những cán bộ đă được 
Trung Cộng huấn luyện, và gửi họ xâm nhập vào 
làng. Những "Đội đấu tố", này về sau trở 
thành các "Đội Cải cách Ruộng đất", đă giả 
dạng làm nông dân và được các Uỷ ban Hành chánh 
làng, xă giới thiệu tới cư ngụ tại những gia 
đ́nh nghèo nhất trong xă. 

Các Đội này áp dụng một kỹ thuật tâm lư 
chiến rất tinh vi để mua chuộc cảm t́nh những 
gia đ́nh nông dân nghèo nơi họ cư ngụ, đó là kỹ 
thuật tam cùng: cùng ăn (góp phần ăn chung), cùng 
ở (cùng ở chung một nhà) và cùng làm (mà không 
lấy công). Đây là giai đoạn chuẩn bị đấu 
tranh, một giai đoạn quan trọng nhất, gồm ba mục 
tiêu: 

- Mua chuộc t́nh cảm nông dân nghèọ 

- Gây căm thù giữa các nông dân nghèo đối với 
địa chủ và xúi giục họ đấu tranh. 

- Điều tra tỉ mỉ các gia đ́nh khác trong làng, 
xă. 

Kỹ thuật "tam cùng" này rất thành công. Sau khi 
đă chịu sống cực khổ với bần nông, giúp đỡ 
tận t́nh trong mọi công việc, mua chuộc được 
cảm t́nh của bần nông, "cán bộ tam cùng" bắt 
đầu rỉ rả nhồi sọ, tuyên truyền cho bần nông 
căm thù địa chủ là chính địa chủ đă gây nên 
cảnh cùng khổ cho ho.. Sau khi gây được căm thù, 
cán bộ tam cùng phải thuyết phục bần nông đứng 
lên đấu tranh tiêu diệt địa chủ. 

Khi đă thuyết phục được một bần nông chịu 
đứng lên đấu tranh với địa chủ, cán bộ gọi 
là đă "xây dựng được một rễ". Một "rễ" 
phải ưu tiên là một thân nhân gần nhất của 
địa chủ có tội, chẳng hạn như là vợ bé, con 
gái, con nuôi, hoặc gia nhân,... v́ trong trường 
hợp như vậy, những lời tố cáo (vu oan giá họa) 
của "rễ" đối với địa chủ sẽ gây được xúc 
động tâm lư mạnh mẽ hơn.. Nếu không t́m được 
người có liên hệ gần với địa chủ th́ phải 
t́m người có liên hệ xa, và nếu cùng quá không 
t́m được người có liên hệ xa gần th́ mới 
phải t́m người ngoài để "xây dựng rễ". 

Khi đă xây dựng được một rễ, lại có thể 
móc nối thêm các rễ khác làm thành một "chuỗi 
rễ". Trong trường hợp cán bộ không thuyết phục 
được một "rễ" thuận ư đấu tranh với địa 
chủ, cán bộ nói là "gặp phải rễ thối". Sau bao 
nhiêu công lao "tam cùng", họ lại phải đi t́m một 
"rễ" khác. 

Anh Nguyễn Văn Thân, và một số nhân chứng hồi 
chánh viên khác, đă kể lại những mẩu giai thoại 
bi hài về "Đấu tranh Giảm tô" như: 

".... Cảnh sống tam cùng đă đưa đến nhiều 
bi-hài kịch: Có khi đội viên là một chàng trai 
mà gia đ́nh bần cố lại có con gái lớn nên 
chuyện hủ hóa đă xảy ra; hoặc giả khi người 
nghèo khổ nhất làng lại là một bà cụ già bị 
bệnh thần kinh, ăn nói bất nhất, hoặc một 
người có lương tâm tốt nên dù đội viên Cải 
cách Ruộng đất có cố gắng đến mấy, họ cũng 
không thể hoặc không chịu đứng ra tố người 
địa chủ, nhất là khi họ đă từng chịu ơn của 
người địa chủ đó. V́ vậy mới có danh từ 
"rễ thối" để chỉ các loại này...". 

Sau khi đă chuẩn bị xong các nhân vật chính trong 
cuộc đấu giảm tô, các Đội Cải cách Ruộng 
đất mới ra mắt công khai tại làng, xă, và lập 
tức, các cơ cấu tổ chức cũ như Uỷ ban Hành 
chánh Xă v.v... đều bị giải tán để giao quyền 
hành lại cho Đội và những phần tử cốt cán 
đảm nhiệm. Làng xă lúc đó lập tức bị phong 
tỏa, chỉ riêng Đội Cải cách có thể liên lạc 
bằng đường dây điện thoại với trung ương 
hoặc cấp trên của họ là Đoàn Cải cách Ruộng 
đất. Các địa chủ liền bị cô lập, giam lỏng 
hoặc bị quản chế thực sự, tài sản của họ bị 
niêm phong. 

Tất cả gia đ́nh của địa chủ cũng bị cô lập, 
bị khủng bố tinh thần, bị nhục mạ, trẻ con 
được xúi giục ném đá, đánh đập gia đ́nh 
địa chủ mà họ không có quyền phản ứng lại, 
người lớn được quyền chửi bới gia đ́nh 
địa chủ mỗi khi gặp mặt. Chẳng những gia đ́nh 
địa chủ lâm vào cảnh cùng đường, mà thân nhân, 
bạn bè cũng bị đẩy vào tuyệt lô.. Những 
người này, nếu c̣n giữ cảm t́nh với gia đ́nh 
địa chủ, t́m cách ngấm ngầm giúp đỡ hoặc 
bênh vực địa chủ mà bị Đội Cải cách phát giác 
là sẽ bị ghép vào tội "Liên quan phản động". 

Phần chính của tấn kịch Đấu Giảm tô là phần 
"Thoái Tô", "Đấu Địa Chủ" và "Xử án Địa chủ". 

oOo 

Ta biết rằng việc giảm tô đă được "Chính 
quyền Kháng chiến" quy định bằng một sắc lệnh 
số 78/SL ngày 14 tháng 7 năm 1949 ấn định một 
mức chung là giảm đi 25%. Điều này có nghĩa là 
ưu đăi các tá điền và theo luật mới, địa chủ 
phải giảm bớt số lời ("địa tô") đánh trên tá 
điền. 

V́ lề lối làm việc luộm thuộm ở nông thôn, 
khi địa chủ giảm tô cho tá điền chẳng hề có 
việc ghi biên lai làm bằng chứng. V́ thế, 4 năm 
sau, khi có phong trào Đấu Giảm tô, địa chủ bị 
coi như không hề giảm tô cho tá điền theo như 
sắc lệnh, và Đội Cải cách hướng dẫn tá 
điền "khai nợ" để đ̣i địa chủ phải "Thoái 
tô" cho tá điền, nghĩa là hoàn trả cho tá điền 
số địa tô thặng dư mà địa chủ đă lấy một 
cách trái phép (theo sự "mớm cung" của cán bộ 
Cải cách và sự khai gian của tá điền). Số nợ 
"thoái tô" này nhiều hay ít là do Đội ấn định 
trước, tùy theo số tài sản, nữ trang của địa 
chủ mà "Đội" đă điều tra biết được. 

oOo 

Sau khi "xây dựng" xong "chuỗi rễ" và trước khi 
địa chủ bị đem ra tố khổ, đội viên Cải cách 
phải nhồi sọ "chuỗi rễ" qua một khóa học về 
"Tội ác của địa chủ", dạy họ cách nói, cách kể 
tội... với những bằng chứng ngụy tạo, như lời 
anh Nguyễn Văn Thân thuật lại dưới đây: 

".... Chủ yếu là dạy họ tả chân với những 
chứng tích cụ thể (nhưng gian trá) để làm xúc 
động quần chúng. Thí dụ như một cái sẹo cũ bị 
ngă từ hồi c̣n bé sẽ được tŕnh bày là vết 
dao chém của địa chủ ác ôn, hoặc cặp mắt bị 
kèm nhèm, mù ḷa v́ bệnh đau mắt hột hay lông 
quặm (trichiasis) sẽ dùng để tố là địa chủ ác 
ôn bắt thức khuya, dậy sớm chăn heo, nuôi gà, 
không cho ngủ.... Hoặc nếu một bà lăo rụng tóc 
hết v́ già hay v́ bệnh hoạn th́ sẽ dùng chứng 
tích này để tố địa chủ nắm tóc giựt, đánh 
đập.... Nếu là phụ nữ th́ sẽ tố rằng bị 
địa chủ hiếp dâm hàng trăm lần v.v...". 

Sau khi lập xong "bản tội ác" của từng địa chủ, 
các đội viên Cải cách bắt đầu tập dượt các 
"chuỗi rễ" cho thuần thục về "Cách tố khổ 
địa chủ trước quần chúng", y như như công việc 
của Đạo diễn và Diễn viên trước khi tŕnh 
diễn. Họ phải học tập từ cách ăn nói, tới 
điệu bô.... trước một h́nh nộm địa chủ. 
Tiếp đó, Đội Cải cách mới công bố "Ngày 
đấu tố". 

".... Trong thời gian này, dân làng rất sợ sệt 
và ngoan ngoăn, nhất là các thành phần trung nông 
và phú nông, bảo họp là họ đi họp, bảo khóc là 
họ khóc, bởi ai cũng sợ bị "nâng" lên thành 
phần địa chủ. Đại hội họp mấy đêm liền, 
mỗi đêm sẽ có một "rễ" chính lên tố khổ kể 
tội địa chủ với sự phụ họa của một vài "rễ" 
phu.. Đại hội này được gọi là "ôn nghèo kể 
khổ". Trước khi lập báo cáo, Đại hội được 
xem tŕnh chiếu phim "Bạch Mao Nữ" (một nhân vật 
với cốt truyện của Trung Quốc). Truyện phim nói 
về một cô gái đi ở cho địa chủ, sau bị tên 
này hiếp dâm, áp bức, hành hạ, nên cô ta phải 
trốn lên núi theo "Cách Mạng" cho đến khi Đội 
Cải cách Ruộng đất về làng, cô mới trở lại 
th́ tóc cô đă bạc trắng. 

"Ảnh hưởng của cuốn phim đă tác động sâu 
đậm trong tâm lư quần chúng nông thôn chất 
phác. Họ đă xúc động, khóc thật sự trước 
cảnh dă man, tàn ác của tên địa chủ trong phim ảnh 
vừa chiếu th́, ngay sau đó, Đội Cải cách liền 
đưa các "rễ" ra tŕnh diện nông dân và kể 
khổ. Thế là khí thế sắt máu của giai cấp bần 
cố nông nổi dậy theo tiếng khóc, tiếng kể lể 
của các "rễ", đă được Đội cho học tập từ 
trước. Khí thế ghê rợn đó đi từ việc hô 
các khẩu hiệu "đả đảo địa chủ cường hào" 
đến việc kư tên vào quyết nghị xin xử tử 
hoặc kết án tù tên địa chủ cường hào đó. 
Thư kư Đội Cải cách sẽ lập biên bản phiên Đại 
hội, lập báo cáo điển h́nh và tŕnh lên Đoàn 
Uỷ duyệt lại để xin quyết định của Trung ương. 
Mấy hôm sau, Đoàn gửi công văn xuống chỉ thị 
rằng Trung ương đồng ư với bản án của... toàn 
dân đưa rạ 

"Sau đó là việc tổ chức "Pháp trường đấu". 
Các đội viên Đội Cải cách Ruộng đất sẽ 
không tham dự nữa mà phải xây dựng (huấn 
luyện, nhồi sọ) cho các gia đ́nh bần cố "chuỗi 
rễ" làm việc đấu tố, và lập Ṭa án nhân 
dân, gồm có: Chủ tịch đoàn và các Uỷ viên Hội 
đồng Ṭa án là các thành phần "chuỗi rễ" đă 
được các đội viên "xây dựng", không có Luật 
sư bào chữa cho bị can, có Đoàn Uỷ và chính 
quyền địa phương tham dư.. Bị can là các địa 
chủ cường hào đă bị giam từ trước và đến 
khi đó, bị giải ra "đấu trường" tại sân đ́nh 
hay sân trường làng, toàn thể dân làng đều 
phải có mặt và tập trung theo thành phần để 
tham dư.. Trong phiên đấu này, các "chuỗi rễ" 
đă được huấn luyện cũng lại đứng ra kể 
tội, tố một cách tóm tắt hơn, và sau đó, v́ 
không có Luật sư nên "Ṭa" cho phép "bị can" tự 
bào chữa; tuy có h́nh thức "dân chủ" như thế, 
nhưng thực ra, bị can chỉ c̣n cách cúi đầu nhận 
tội, nếu người nào ngoan cố không nhận, hoặc 
nói sai ư của Chủ tịch đoàn th́ lập tức Chủ 
tịch đoàn hô khẩu hiệu đả đảo và nông dân 
tham dự ở dưới hô theo để áp đảo tinh thần 
bị can và cấm không cho bị can nói tiếp. Sau đó, 
Chủ tịch đoàn chỉ việc tuyên án bị can theo một 
bản án đă do Trung ương định sẵn". 

Đoạn dưới đây thuật lại một cuộc đấu tố 
với những tội nhân điển h́nh tại Xóm Chuối, 
tỉnh Ninh B́nh, khi Đội Cải cách về làng và anh 
Nguyễn Văn Thân được cử làm Thư kư Đội: 

".... Đoàn tôi về thi hành chính sách tại Ninh 
B́nh. Đoàn trưởng là anh Thu, đă từng là Chính 
uỷ Trung đoàn và lúc đó đang làm Tỉnh uỷ viên. 
Tôi thuộc Đội 6. Đội trưởng là chị Văn, lúc 
đó mới 20 tuổi, mồ côi, đi ở đợ cho địa 
chủ từ nhỏ và đă tham gia Cải cách Ruộng đất 
các đợt 1, 2, 3 và 4 với tư cách "rễ". Đợt 
này là đợt thứ 5 chị được đề cử làm Đội 
trưởng. Về văn hoá, chị chỉ biết kư tên mà 
thôi, nhờ chúng tôi dạy cho chi.. Đội chúng tôi 
được cử về Xóm Chuối, tỉnh Ninh B́nh. Xóm này 
rất nghèo, số gia đ́nh có khoảng trên 100, và 
thực tế th́ chúng tôi chỉ thấy có 3 gia đ́nh 
tạm gọi là khá giả, nghĩa là có từ 10 đến 15 
mẫu ruộng, có ao, có vườn. Thứ nhất là gia 
đ́nh ông Quản Năm, có con là Thiếu tá Trung đoàn 
phó 3/14, có 15 mẫu ruộng, con cháu đông nên chỉ 
mướn 3 anh tá điền làm công. Chúng tôi về "xây 
dựng" 3 anh này để đứng ra tố ông Quản Năm, 
nhưng 3 anh không chịu, nên sau phải vận động cô 
cháu họ của ông cụ tên là Min đứng ra đấụ Gia 
đ́nh thứ hai có 10 mẫu ruộng, nhưng lại giao cho 
người cháu quản lư, c̣n chính gia chủ lại đi 
buôn bán ở thị xă Hà Nam, có con đi bộ đội 
chết (tử sĩ); sau, người cháu sợ bị ghép tội 
"Liên quan phản động" nên đứng ra đấu tố gia 
đ́nh ông nàỵ Gia đ́nh thứ ba là gia đ́nh bà 
Quản Hảo, một thành phần địa chủ mới giàu do 
công khó làm ăn v́ ruộng đất toàn do con cái 
tự canh tác, không mượn ngườị Đội tôi đưa 
cháu gái đứng ra tố bà cộ 

"Sau khi t́m được ba địa chủ, xây dựng được 
"chuỗi rễ", Đội tôi làm báo cáo điển h́nh 
về Đoàn xin duyệt y, nhưng Đoàn không chấp 
nhận v́ chưa đạt tiêu chuẩn tỷ lệ là 5% và 
Đội tôi phải "cố" làm sao để nâng số gia 
đ́nh địa chủ lên 5 ngườị Làm đi làm lại, 
Đội tôi đành chịu thua nên Đoàn phải cử một 
anh cố vấn tên Thanh về để giúp giải quyết. 
Anh Thanh này có thành tích chuyên môn phát hiện 
địa chủ; nên sau khi có sự giúp đỡ của anh ta, 
chúng tôi có thêm hai gia đ́nh địa chủ nữa để 
đấu tố. Hai gia đ́nh này chỉ có một hai mẫu 
ruộng, nhưng có xe đạp, có con đi học ở Hà 
Nội, và nhất là một trong hai gia đ́nh địa chủ 
có lần đi lính cho Pháp trước rồi sau về làm 
Phó lư tên gọi là Phó Hội Khạ 

"Khi đă xây dựng đủ số 5 gia đ́nh cường hào 
địa chủ, chúng tôi lập báo cáo và khi đó Đoàn 
mới duyệt phương án và đ̣i phải có ít ra là 2 
cường hào ác bá phải bị xử tử. Chúng tôi 
định đưa bà Phó Hội Kha ra làm vật hy sinh v́ 
ông chồng bà trước kia đi lính cho Pháp và làm 
Phó lư, tuy nay đă chết, nhưng nợ máu vẫn c̣n 
và bà vợ phải trả. Nhưng, bà Phó Hội Kha nghe 
được tin này đă thắt cổ tự tử trước khi 
bị chúng tôi đưa ra đấu trường. Tuy vậy, khi 
lập Ṭa án Nhân dân, bà Phó Hội Kha vẫn bị xử 
khuyết tịch và bị tịch biên gia sản để trả lại 
cho nông dân. 

"Riêng tôi được phân công "bắt rễ" với một 
bà 55 tuổi, không con, có họ với ông Quản Năm. 
Bà này bị bệnh thần kinh nhe.. Tôi đă phải áp 
dụng kỹ thuật "tam cùng" thật là khổ sở: ăn 
đói, ngủ thiếu, làm khổ, nên trong thời gian 
này, tôi bị sút năm, sáu Kí-lô, và điều nản 
nữa là bà này lại là một "rễ thối", nghĩa là 
bà ta chẳng nói, chẳng hiểu và chẳng làm ǵ 
cả. Sau, tôi phải bỏ lờ bà ta để t́m một "rễ" 
khác để xây dựng, đó là anh Thà, một thanh 
niên tá điền, cờ bạc, rượu chè nên rất căm 
thù ông Quản Năm. Rồi cô cháu họ của ông Năm, 
tức chị Min, tố bị ông hiếp tất cả 17 lần.... 
Mặc dù các gia đ́nh này có con là bộ đội cũng 
vẫn bị tố như thường, mà khi con về c̣n bị 
Đội Cải cách bắt v́ nghi là về liên lạc với 
địa chủ...". 

oOo 

Tóm lại, "Đấu giảm tô" chính là một giai đoạn 
thực tập thí nghiệm cho chiến dịch "Đấu tranh 
Cải cách Ruộng đất". Phong trào Đấu giảm tô 
đă thực sự sử dụng đến bạo lực của nông 
dân, đă thực sự gây chém giết, đổ máu và tỏ 
ra thành công hơn giai đoạn "Đấu tranh chống phản 
động" nhờ đă rút tỉa được nhiều kinh nghiệm 
hơn. Trong giai đoạn đấu tranh chống phản động, 
qua kỹ thuật "mớm cung" theo dây chuyền, nhiều 
nạn nhân đă khai lung tung ra ngoài sự dự liệu 
của cán bộ Đảng khiến cho Đảng không nắm vững 
được phong tràọ Trong giai đoạn đấu tranh giảm 
tô, những người đứng ra tố cáo đă được 
cán bộ huấn luyện, giáo dục, nhồi sọ và chuẩn 
bị rất kỹ lưỡng tới mức hoàn hảọ 

Một điểm rất quan trọng đáng lưu ư ở đây là 
quy tắc kích tỷ lê.. Đảng đă nhắm đến trong 
giai đoạn đấu tranh giảm tô là không phải chỉ 
riêng địa chủ mới bị xử tử mà cà những 
người có một, hai mẫu ruộng cũng phải lănh 
những phát đạn kết liễu cuộc đời, v́ bị 
kết vào những tội phản động, phản quốc, thông 
đồng với giặc Pháp v.v.... Làm như vậy, Đảng 
đă gián tiếp cảnh cáo những phần tử phú nông 
và trung nông khác phải coi chừng, đừng có nho 
nhoe chống đốị 

oOo 

Cuộc Đấu tranh Giảm Tô đă kéo dài tới đầu 
năm 1954 th́ tạm thời được ngưng lại khi Chiến 
trường Điện Biên Phủ đi vào giai đoạn nghiêm 
trọng và quyết đi.nh. 

Nói tóm lại, cuộc Cải tạo Nông nghiệp tại miền 
Bắc bắt đầu vào năm 1951 với chính sách Thuế 
Nông Nghiệp, trùng hợp với giai đoạn Tổng Phản 
Công trên phương diện quân sự với các trận 
đánh lớn như Trận Vĩnh Yên (khai diễn ngày 13 
tháng 1, 1951), Trận Mao Khê (khai diễn đêm 23 rạng 
ngày 24 tháng 3) và Trận Sông Đáy (khai diễn ngày 
29 tháng 5). Sự trùng hợp này giải thích nhu cầu 
cấp bách trên ba phương diện: 

- Động viên nhân lực và tài lực cho chiến 
tranh. 

- Đánh gục các thành phần Quốc gia yêu nước 
nhưng không ủng hộ Việt cộng dưới danh hiệu 
Việt Minh. 

- Chuẩn bị đánh gục các thành phần Quốc gia yêu 
nước đang tham gia cuộc Kháng Chiến Chống Pháp, 
nhưng có thể trở thành chống lại Việt cộng khi 
Kháng Chiến thành công. 

Sự chuẩn bị này dành cho giai đoạn sắt máu sắp 
tới, mà ta sẽ nghiên cứu trong bài báo kế tiếp; 
trong đó, các câu hỏi sau đây sẽ được giải 
đáp: 

- Việt cộng làm cách nào tiêu diệt các thành 
phần Quốc gia yêu nước tham gia Kháng Chiến? 

- Nhân dân có thái độ như thế nào để chống 
lại các hành động gian ác của Việt cộng? 

- Việt cộng dùng thủ đoạn ǵ để đối phó 
với phản ứng của nhân dân? 


Cải cách ruộng đất Miền Bắc (3) 

* Giai đoạn đấu tranh sắt máu sau 1954 

Trận Điện Biên Phủ và Hiệp Định Geneve 1954 là 
hai biến cố chính khiến cho chiến dịch Đấu 
Tranh Giảm Tô được tạm ngưng. Mặc dầu sau Hiệp 
Định Genève, Việt cộng hoàn toàn làm chủ miền 
Bắc trong một khí thế đầy phấn khởi, bộ 
đội Việt cộng về thủ đô với một vinh dự 
chiến thắng, nhưng Hồ Chí Minh và giới đầu 
lănh Hà Nội phải đối phó với nhiều vấn đề 
cấp bách: Phong trào di cư của gần một triệu 
đồng bào miền Bắc bỏ trốn cộng sản vào Nam, 
việc tập kết khoảng 50 ngàn bộ đội và cán 
bộ cộng sản từ Nam ra Bắc tạo nên nhu cầu ổn 
định tâm lư quần chúng cũng như củng cố an ninh. 
Do đó, Việt cộng đă dành một thời gian khoảng 
một năm để chấn chỉnh t́nh h́nh nội bộ và 
chuẩn bị làm nốt phần tối quan trọng của Cải 
Cách Ruộng Đất để bắt đầu công việc xây 
dựng cơ sở vật chất cho công cuộc xâm lược 
miền Nam. 

Trong phạm vi bài này ta sẽ đi vào các phần chính 
sau đây: 

- Giai đọan đấu tranh đẫm máu 

- Phản ứng của nhân dân đưa đến quyết định 
sửa sai 

- Cuộc đấu tranh tiếp theo của nhân dân miền 
Bắc 

- Những đặc điểm điển h́nh của giai đoạn Cải 
Cách Ruộng Đất 1951-1956 đưa đến chiến dịch 
sửa sai.

Home                                            Xem tiếp  -->