III. Xây Dựng Lực Lượng Chính Quy Bắc Việt
Năm 1956, sau khi việc chia đôi hai miền Nam Bằc
đă dứt khoát, vấn đề an ninh lănh thổ tạm ổn
định, Hà Nội bằt đầu bỏ ra nhiều năm xây
dựng quân đội chính quỵ Lực lượng vơ trang
của Việt cộng nói chung có ba ngành: lực lượng
chính quy, lực lượng địa phương và dân quân du
kích. Tại mỗi xă ngoài Bằc, lực lượng địa
phương có một xă đội với ban chỉ huy và lực
lượng du kích có từ một trung đội đến một
đại đội tùy theo xă lớn hay nhỏ và tùy theo
tầm quan tro.ng. Tại mỗi huyện có một huyện
đội và ít nhất một đại đội, c̣n tại mỗi
tỉnh có tỉnh đội và một tiểu đoàn. Ngoài ra
tại các đô thị, thị xă, xí nghiệp c̣n có các
đơn vị tự vệ giữ an ninh, và có một cán bộ
cấp Đảng uỷ-viên tại mỗi nơi này phụ trách
việc tổ chức, lănh đạo, huấn luyện các lực
lượng tự vê..
Ở một phần khác ta sẽ nói kỹ về lực lượng
địa phương quân và dân du quân kích trong vai tṛ
giữ nhà. Ở đây ta chỉ nói về công tŕnh xây
dựng quân đội chính quy Việt cộng trong kế
hoạch thôn tính Đông Dương, kể từ năm 1956 khi
Phạm Văn Đồng đệ tŕnh lên quốc hội Việt
cộng dự luật "giảm trừ quân bị".
Đạo luật "giảm trừ quân bị" được thông qua
nằm trong chính sách Tổng Biên Chế quân đội
Miền Bằc, và 80.000 quân chính quy giải ngũ gồm
một số lớn thương phế binh, số c̣n lại quy tụ
các thành phần bị coi là địa chủ, cường hào,
ác bá, tư sản v.v... và được đem vào khai thác
các nông trường "quê hương mới" cùng với một
số lớn các bộ đội tập kết miền Nam (ở
những nông trường riêng).
Những đơn vị Nam Bộ tập kết năm 1954 ra Bằc
được tổ chức thành những sư đoàn mang phiên
hiệu Việt cộng 305, 324, 325, 330, 338 và một số
trung đoàn biệt lập. Như ta đă thấy trong bài
trước, một phần của các sư đoàn này được
chia ra xây dựng và quản trị các nông trường,
phần c̣n lại có nhiệm vụ giữ an ninh, hoặc
được huấn luyện tại các quân trường như sẽ
được tŕnh bày trong phần dưới đâỵ
Theo đạo luật về "Nghĩa vụ quân sự" của Việt
cộng năm 1960, tất cả các thanh niên từ 18 đến
28 tuổi đều phải nhập ngũ và phục vụ ít nhất
3 năm. Bằt đầu từ đó, Việt cộng xúc tiến
công tác xây dựng quân đội chính quy, mà xuyên
qua các tài liệu về Việt cộng, ta có thể nhận
định thấy hai nét chính yếu:
- Hiện đại hóa quân đội
- Chính trị hóa quân đội
1. Hiện đại hóa quân đội
Hiện đại hóa là khuynh hướng chung của bất cứ
một nhà cầm quyền mới nào chứ không riêng ǵ
Việt cô.ng. Nhưng việc hiện đại hóa quân đội
của Việt cộng có một số đặc điểm làm nổi
bật những ưu điểm cũng như khuyết điểm của
Hà Nội trong khung cảnh chiến tranh Đông Dương.
Sau khi đă nằm vững được t́nh h́nh chính trị
Miền Bằc, Hồ Chí Minh và cấp đầu lănh Việt
cộng có nhiều vấn đề phải giải quyết liên
quan đến công tác hiện đại hóa quân độị Năm
1956, khi dự tính nuốt trôi miền Nam qua âm mưu
Tổng Tuyển Cử không thành, viễn ảnh xâm chiếm
Miền Nam bằng một cuộc chiến tranh vơ trang đă
trở thành một sự lựa chọn chằc chằn. Trong
dự tính xâm lăng Miền Nam, Việt cộng cũng nh́n
thấy khả năng can thiệp của Hoa Kỳ bằng một
lực lượng quân sự hiện đạị
Mặt khác, trong khi rêu rao rằng "không có ǵ quư
hơn độc lập và tự do", Hồ Chí Minh và đảng
Việt cộng c̣n nhằm thôn tính Đông Dương và
Thái Lan, một công tác phục vụ cho quan thầy
được mệnh danh là "nghĩa vụ quốc tế".
Quân đội Việt cộng Miền Bằc lúc đó c̣n mang
tính chất một lực lượng vơ trang của một
cuộc chiến tranh du kích, thích hợp với một
cuộc chiến tranh phi quy ước, nhưng thiếu những
đặc tính cần có trong một cuộc viễn chinh quy
ước tại các chiến trường ngoại lai như Kampuchia
và Thái Lan, hoặc trong trường hợp phải đương
đầu với quân đội Việt Nam Cộng Ḥa và lực
lượng yểm trợ của Hoa Kỳ tại miền Nam.
Cho tới năm 1958, ngay các đơn vị chủ lực của
quân đội Việt cộng c̣n được trang bị bằng
đủ loại vơ khí hỗn tạp của Pháp và Nhật để
lại cùng với vơ khí và trang bị của Trung Quốc.
Các sĩ quan và binh lính Việt cộng c̣n mang quân
phục của thời kháng Pháp.
Ngày 20-6-1958, chính quyền Việt cộng kư nghị
định số 307/TTG chính thức ấn định quân hàm cho
các cấp trong quân đội, và ngày 22 tháng 12, Hồ
Chí Minh và Phạm Văn Đồng gằn lon cho các cấp
Tướng Miền Bằc. Từ ngày các cấp Tướng Tá
Việt cộng mang lon, báo chí Việt cộng lại mở
một chiến dịch tuyên truyền về sự khác biệt
giữa hệ thống "lon tư bản phản cách mạng" và
hệ thống "quân hàm tiến bộ" của quân đội
nhân dân (bài diễn văn của Nguyễn Chí Thanh đăng
trong báo Quân Đội Nhân Dân ngày 9-9-1958).
Nhưng vấn đề quan trọng nhất của công tác hiện
đại hóa là vấn đề tổ chức, huấn luyện và
trang bi.. Trên phương diện tổ chức một đạo
quân hiện đại, Việt cộng Miền Bằc phải thành
lập thêm các quân chủng ngoài quân chủng Bộ binh.
Đó là các quân chủng Hải quân, Không quân, và
các binh chủng Pháo binh, Công binh, Truyền tin và
Thiết ky.. Việc thành lập thêm những binh chủng
mới đ̣i hỏi công tác huấn luyện trong nước
cũng như gửi các thành phần đảng viên trung kiên
hoặc con của các lănh tụ và cán bộ đầu sỏ đi
học ở các trường quân sự của các nước cộng
sản khác.
Từ năm 1958, Việt cộng thiết lập các trường
huấn luyện sĩ quan và hạ sĩ quan thuộc mọi quân
binh chủng:
- Trường Bộ binh
- Trường Hải quân Băi Cháy, Ḥn Gay
- Trường Hải quân Hải Pḥng
- Trường Hải quân Vinh
- Trường Pháo binh Sơn Tây
- Trường Truyền tin
- Trường Công binh
- Trường sĩ quan Thiết kỵ
Việt cộng đă gửi quân nhân đi các nước cộng
sản để được huấn luyện về không quân,
rađda, tên lửa (hỏa tiễn), hải quân (chủ yếu là
tàu ngầm và phóng ngư lôi), công binh, quân giới,
đặc công v.v.... Đồng thời các chế độ cộng
sản, nhất là Liên Xô và Trung Quốc, đă trang bị
vơ khí hiện đại cho Việt cô.ng. Quan niệm hiện
đại hóa quân đội của Việt cộng bị giằng co
giữa hai khuynh hướng đối nghi.ch. Khuynh hướng
Vơ Nguyên Giáp chủ trương sử dụng vơ khí hiện
đại, kỹ thuật hiện đạị V́ "chiến tranh nhân
dân" đă lỗi thờị Dĩ nhiên, trong khối cộng
sản chỉ Liên Xô là có khả năng trang bị đầy đủ
vơ khí hiện đại cho Việt cô.ng. Đối nghịch
với khuynh hướng Vơ Nguyên Giáp là khuynh hướng
Trường Chinh gồm có Trường Chinh, Nguyễn Chí
Thanh và Lê Đức Thọ chủ trương lấy "chiến tranh
nhân dân" để đánh thắng chiến tranh hiện đại
và trong chủ trương "chiến tranh nhân dân", vấn
đề tối quan trọng là lănh đạo tư tưởng, là
chính trị hóa quân đội, và vơ trang một cách dư
thừa bằng vơ khí cổ điển. Quan điểm của
Trường Chinh cũng là quan điểm Mao Trạch Đông
đă thằng thế trong Bộ chính trị, v́ thế việc
hiện đại hóa quân đội Miền Bằc chỉ được
thực một cách hạn chế. Hậu quả là Việt cộng
nhận tương đối ít vơ khí hiện đại của Liên
Xô, mặc dầu tính thành tiền, con số viện trợ
của Liên Xô rất lớn v́ vũ khí hiện đại trị
giá caọ Mặt khác Việt cộng nhận được rất
nhiều vơ khí cổ điển của Trung Quốc từ súng
lục súng trường tới tiểu liên, trung liên, súng
pḥng không 37, pḥng không 57, đại bác pḥng không
v.v....
Ưu điểm thứ nhất của đường lối hiện đại
hóa quân đội Việt cộng là việc thành lập binh
chủng đặc công, tượng trưng cho quan điểm trang
bị hạn chế vơ khí hiện đại nhưng chú trọng
tới chiến thuật, kỹ thuật chiến đấu chuyên
biệt và tinh nhuê.. Bộ Tư lệnh Đặc công trực
thuộc Bộ Tổng Tư lệnh quân đội Miền Bằc và
Bộ Tổng Tham Mưụ Ban chỉ huy rường cột là Lữ
đoàn 305 tức là Lữ đoàn Dù được thành lập
từ năm 1958. Nhưng v́ binh chủng Dù không đắc
dụng trong cuộc chiến tranh Đông Dương nên bộ
Tổng Tư lệnh Việt cộng đă giải tán và lấy
toàn thể Bộ Tư lệnh Dù lập thành Bộ Tư lệnh
Đặc công, do Đại tá Điều làm Tư Lệnh trưởng
và Thượng tá Đạo làm Chính ủỵ Đặc điểm về
tổ chức là binh chủng này không có cấp trung
đoàn, trung đội và tiểu đội, chỉ có cấp
tiểu đoàn, đại đội, phân đội và thấp nhất
là tổ, gồm từ 3 đến 5 ngườị Từ 4 tới 5
tổ hợp thành một phân đội và 5 phân đội
thành một đại độị Đặc điểm thứ hai là sự
chuyên biệt. Ví dụ Tiểu đoàn 5 chuyên đánh
dưới nước, đánh cầu, đánh tàụ Tiểu đoàn 2
chuyên huấn luyện bổ sung miền Nam. Tiểu đoàn 4
chuyên đánh thành phố....
Ưu điểm của đặc công là lấy chuyên môn đánh
không chuyên môn, lấy ít đánh nhiều, và về
phương diện này, bộ đội đặc công giống các
chiến sĩ biệt kích và các chiến sĩ người nhái
của Việt Nam Cộng Ḥa trước đâỵ
Ưu điểm thứ hai của đường lối hiện đại hóa
hạn chế là ngành pháo binh của Việt cô.ng. Pháo
binh đă dùng hỏa lực cực kỳ ồ ạt phối hợp
với việc quan trằc địa h́nh rất kỹ lưỡng.
Pháo diện địa cũng như pháo pḥng không của
Việt cộng đă nằm ưu thế tại miền Bằc cũng
như ở Hạ Làọ Ở Miền Nam, pháo của cộng quân
đă nâng đỡ cho chúng rất nhiều trước ưu thế
trên không, ưu thế lưu động tính, và ưu thế
cơ giới của quân đội Miền Nam và Đồng Minh.
Mặt khác, đường lối hiện đại hóa hạn chế
cũng có một số khuyết điểm. Trước hết, quân
chủng Hải quân, mặc dầu với tàu ngầm, với
phóng ngư lôi hạm, với tên lửa trang bị cho
chiến hạm, đă bị Hạm đội 7 của Hoa Kỳ đè bẹp
ngay trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh
không tập và Việt cộng đă phải giải tán quân
chủng này, chỉ giữ lại một ít tàu tượng trưng
để tuần tiểụ Toàn bộ sĩ quan và binh sĩ tàu
nổi đều được chuyển sang các quân chủng khác,
phần lớn là bộ binh. Riêng quân số tàu ngầm
được tăng cường thêm. Một khuyết điểm thứ
hai là về không quân. Sau 10 năm chiến tranh, không
quân Việt cộng hầu như đă không có dịp nào
tung hoành trên mặt trận Đông Dương, mà chỉ
quanh quẩn trong nội bộ Việt cộng, hơn nữa,
c̣n bị đàn áp trước ưu thế của không lực Hoa
Kỳ, suốt trong 3 năm không tập từ 1965 tới 1968,
Việt cộng đă mất 50% không lực trong các cuộc
không chiến cũng như trong các cuộc không tập
của Hoa Kỳ. Khuyết điểm thứ ba là về hoả
tiễn. Từ 1965 tới tháng 1-1967, Việt cộng đă
bằn 1.000 hỏa tiễn SAM mà chỉ hạ 30 máy bay Hoa Kỳ
trị giá 60 triệu Mỹ kim.
Trong khi các loại vơ khí thường hạ được 430
máy bay trị giá hơn 1 tỷ Mỹ kim, th́ trong suốt
thời gian chiến tranh không tập, Việt cộng đă
bằn hơn 3.500 hỏa tiễn SAM trị giá gần 100 triệu
Mỹ kim mà không đạt được kết quả mong muốn.
2. Chính trị hoá quân đội
Đường lối hiện đại hoá quân đội một cách
hạn chế và khuynh hướng ngả về loại chiến tranh
phi quy ước mà Việt cộng mệnh danh là "chiến
tranh nhân dân" đă đưa đến việc rập khuôn
mẫu tổ chức của Trung Quốc trong công tác "chính
trị hóa" quân độị
Cấp cao nhất của hệ thống chính quyền trong
quân đội Việt cộng là Hội Đồng Tối Cao
Quốc Pḥng gồm toàn Ủy viên chính trị bộ và
Trung ương đảng: Chủ tịch: là Chủ tịch Nhà nước
Hồ Chí Minh (chủ tịch đầu tiên)
và là Tôn Đức Thắng (chủ tịch thứ hai).
Phó chủ tịch:
Phạm Văn Đồng (chính trị bộ)
Vơ Nguyên Giáp (chính trị bộ)
Ủy viên:
Nguyễn Chí Thanh (chính trị bộ)
Văn Tiến Dũng (chính trị bộ)
Nguyễn Duy Trinh (chính trị bộ)
Trần Quốc Hoàn (chính trị bộ)
Nguyễn Văn Trân (Trung ương đảng bộ)
Chu Văn Tấn (Trung ương đảng bộ)
Song Hào (Trung ương đảng Bộ)
(sơ đồ tổ chức)
Dưới Hội đồng Tối cao Quốc pḥng là Bộ
Quốc pḥng rồi đến Bộ Tổng Tư lê.nh. Cấp
đảng ủy kiểm soát Bộ Tổng Tư lệnh Miền Bằc
là Tổng Quân ủy Trung ương, gồm một số Tướng
lănh Việt cộng: Vơ Nguyên Giáp (quân hàm Đại
tướng), Song Hào (Trung tướng), Phạm Ngọc Mẫu
(Thiếu tướng) và một số Ủy viên Trung ương
đảng như Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng
v.v....
Đường lối chính trị hóa quân đội, theo sơ
đồ, cho thấy mấy đặc điểm chính sau đây:
- Thủ trưởng (chỉ huy) các cấp đơn vị từ Bộ
chỉ huy đến ban chỉ huy đều phải chịu sự lănh
đạo của đảng. Sự lănh đạo của đảng đi tới
cấp thấp nhất là một tổ trong một tiểu
độị Đơn vị nhỏ nhất của quân đội là "Tổ
tam tam", gồm 3 người, trong đó tổ trưởng hoặc
phải là một đảng viên, hoặc một thành phần
trung kiên cơ bản. Một tiểu đội có ba ba "Tổ
tam tam".
- Cấp chỉ huy quân đội chịu sự kiểm tra của
cấp đảng ủy đơn vị, ví dụ Sư đoàn Trưởng
chịu sự kiểm tra của Chính ủy sư đoàn là
người chấp hành đường lối đảng thi hành các
Nghị Quyết do đảng đề rạ
- Các chức vụ Chính trị viên hay Chính ủy trong
quân đội đều do Bí thư Đảng ủy, Đảng bộ
cấp đó nằm giữ mà bí thư là nhân vật quan
trọng nhất của Đảng ủy, Đảng bô..
Dĩ nhiên đường lối chính trị hóa quân đội
nói trên cũng được áp dụng cho tất cả các đơn
vị vơ trang của Việt cộng ở trong Nam, và đảng
của Việt cộng ở trong Nam mang "ngụy danh" là
Đảng Nhân Dân Cách Mạng để che dấu sự can
thiệp của Việt cô.ng.
Tóm lại, với tổ chức chính trị hóa như trên,
đảng đă nằm chằc quân đội trong tay, đă nhào
nặn cả triệu thanh niên trong một hệ thống "bịt
mằt bằt hào quang giải phóng miền Nam ruột
thịt", đă lừa bịp và thúc đẩy cả triệu thanh
niên miền Bằc chết cho cái ảo vọng đẫm máu
của Các-Mác, Lê-nin.
Cũng theo sơ đồ nói trên, song song với vai tṛ
kiểm soát và lănh đạo chính trị của hệ thống
Đảng ủy, Tổng cục Chính trị có nhiệm vụ thi
hành các công tác chính trị qua các Cục Tuyên
huấn, Cục Cán bộ, Cục Tổ chức, Cục Bảo vệ,
Cục Địch vận, Cục Dân vận và Cục Văn hoá.
Chuẩn Bị Xâm Nhập Miền Nam
Đồng thời với công việc xây dựng lực lượng
quân đội Miền Bằc, Việt cộng đă bí mật
huấn luyện cán binh để âm thầm xâm nhập miền
Nam, thành lập khung cho lực lượng cộng quân ở
miền Nam mệnh danh là "Lực lượng vơ trang giải
phóng miền Nam". Các cán binh Việt cộng ở miền
Nam tập kết ra Bằc được huấn luyện tại các
trung tâm sau đây:
- Trung tâm Mạch Lũng ở làng Mạch Lũng, huyện
Đông Anh, tỉnh Hải Dương.
- Trung tâm Xuân Mai, tỉnh Ḥa B́nh.
- Trung tâm Sơn Tâỵ
- Trung tâm Phú Yên, tỉnh Bằc-Thái (Băc Ka.n-Thái
Nguyên)
- Khu vực "Thép" tại Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, huấn
luyện bộ binh, pháo binh, cơ giới, công binh,
thông tin, hóa học.
- Trường đặc công, núi Na-Sơn, tỉnh Sơn Tâỵ
- Trường đặc công xă Đông Yên, huyện Quốc
Oai, tỉnh Sơn Tâỵ
Các cán binh thuộc Sư đoàn Nam Bộ tập kết 324
là những cán binh xâm nhập trong đợt đầu tiên
vào năm 1960, và được bí mật huấn luyện tại
một doanh trại của bản doanh Sư đoàn 338 của Tô
Kư.
Riêng trung tâm Xuân Mai có khả năng huấn luyện
mỗi đợt 1.000 ngườị
Tổng Kết
Những nỗ lực của Hồ Chí Minh và Việt cộng
trong việc xây dựng cơ sở vật chất nhằm thôn
tính Đông Dương đă làm nổi bật kế hoạch hai
mặt của Việt cộng: mặt ch́m và mặt nổị Mặt
nổi là xây dựng và phát triển, mặt ch́m là
chiến tranh thôn tính và bành trướng mà Hồ Chí
Minh gọi là "nghĩa vụ quốc tế", trong đó Hồ
bằt nhân dân Việt Nam đóng vai tṛ tên lính
tiền phong cho cộng sản Liên Xộ
Trong giai đoạn chuẩn bị cơ sở vật chất cho
cuộc chiến tranh, một nhà máy phân đạm (chlorure
de potassium) được Việt cộng đề cao là để
phục vụ cho nông nghiệp, tăng gia năng xuất và
nâng cao mức sống nhân dân. Nhưng khi phát động
cuộc chiến tranh, nhà máy phân đạm biến thành
nhà máy thuốc súng (sản xuất chlorate de potassium)
và nhà nước nói là để "giải phóng miền Nam
ruột thịt và các nước anh em Miên-Lào".
Khi nhân dân phải ăn đói để nhà nước xây cất
các nhà máy cơ khí, th́ họ hy vọng có máy cày,
máy nổ, xe đạp, b́nh thủy, để nâng cao mức
sống. Nhưng khi Việt cộng phát động chiến tranh
thôn tính, nhân dân mới vỡ lẽ ra rằng nhà máy
cơ khí là nơi sản xuất vỏ lựu đạn, ḿn, súng
đạn, cơ giới chiến tranh.
Xây dựng xă hội chủ nghĩa trong mấy chục năm qua
đă gằn liền với chiến tranh thôn tính. H́nh
thức bề ngoài có khác, nhưng bản chất bên trong
nếu có khác th́ cũng chỉ là sự khác biệt giữa
chlorure de potassium và chlorate de potassium.
Chiến tranh thôn tính trong mấy chục năm qua đă
đem lại ǵ cho nhân dân, và đă phục vụ cho aỉ
Nhân dân nghĩ ǵ về cuộc chiến tranh mà Hồ Chí
Minh nói là sẽ đem lại Thống Nhất, Độc Lập và
Tự Dỏ Ta hăy đọc những vần thơ dưới đây của
thi sĩ Nguyễn Chí Thiện:
Không có ǵ quư hơn độc lập tự do!
Tôi biết nó, thằng nói câu đó.
Tôi biết nó, đồng bào miền Bằc này biết nó
Việc nó làm, tội phạm nó ra sao
Nó đầu tiên đem râu nó bện vào
H́nh xác lăo Mao lông lá
Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá
Cũng nhoài qua lục địa Trung Hoa
Không phải xoa đầu mà túm tóc nó từ xa
Nó không đứng yên, tất bật điên đầu
Lúc rụi vào Tàu, lúc rụi vào Nga
Nó gọi Tàu Nga là cha anh nó
Và t́nh nguyện làm con chó nhỏ
Xông xáo giữ nhà gác ngơ cho cha anh
Nó tận thu từ quả trứng trái chanh
Học lối hung tàn của cha anh nó
Cuộc chiến tranh chết vội hết thanh niên
Đương diễn ra triền miên ghê gớm đó
Cũng là do Nga giật Tàu co
Tiếp nhiên liệu gây mồi cho nó:
-Súng, tăng, tên lửa, tàu bay
Nếu không, nó đánh bằng taỷ
Ôi đó, thứ độc lập không có ǵ quư hơn của nó!
Tôi biết rơ, đồng bào miền Bằc này biết rơ
Việc nó làm, tội phạm nó ra sao
Nó là tên trùm đao phủ năm nào
Hồi cải cách đă đem tù, đem bằn
Độ nửa triệu nông dân
Rồi bảo là nhầm lẫn
Đường nó đi trùng điệp bất nhân
Hâm hấp trời đêm nguyên thủy
Đói khổ dựng cờ đại súy
Con cá, lá rau nát nhầu quản lư
Tiếng thớt tiếng dao vọng từ hồi kư
Tiếng thở lời than đan họa ụp vào thân
Nó tập trung hàng chục vạn "ngụy quân"
Nạn nhân của đường lối "khoan hồng chí nhân" của nó
Mọi tầng lớp nhân dân bị cầm chân trên đất nó
Tự do, không thời hạn đi tù!
Mắt nó nh́n ai cũng hóa kẻ thù
V́ ai cũng đói ṃn nhục nhằn cằn răng tạm nuốt
Hiếm có gia đ́nh không có người bị nó cho đi suốt
Đất nó thầm câm cũng chẳng được tha!
Tất cả phải thành loa
Sa sả đêm ngày ngợi ca nó và đảng nó
Đó là thứ tự do không có ǵ quư hơn của nó!
Ôi! Độc Lập! Tự Do
Xưa cũng chỉ v́ quư hai thứ đó
Đất Bằc mằc lừa mất vào tay nó
Nhưng nay mà vẫn c̣n có người mơ hồ nghe nó!
Nó mới vạn lần cần nguyền rủa thực to!