III. Xây Dựng Lực Lượng Chính Quy Bắc Việt 

Năm 1956, sau khi việc chia đôi hai miền Nam Bằc 
đă dứt khoát, vấn đề an ninh lănh thổ tạm ổn 
định, Hà Nội bằt đầu bỏ ra nhiều năm xây 
dựng quân đội chính quỵ Lực lượng vơ trang 
của Việt cộng nói chung có ba ngành: lực lượng 
chính quy, lực lượng địa phương và dân quân du 
kích. Tại mỗi xă ngoài Bằc, lực lượng địa 
phương có một xă đội với ban chỉ huy và lực 
lượng du kích có từ một trung đội đến một 
đại đội tùy theo xă lớn hay nhỏ và tùy theo 
tầm quan tro.ng. Tại mỗi huyện có một huyện 
đội và ít nhất một đại đội, c̣n tại mỗi 
tỉnh có tỉnh đội và một tiểu đoàn. Ngoài ra 
tại các đô thị, thị xă, xí nghiệp c̣n có các 
đơn vị tự vệ giữ an ninh, và có một cán bộ 
cấp Đảng uỷ-viên tại mỗi nơi này phụ trách 
việc tổ chức, lănh đạo, huấn luyện các lực 
lượng tự vê.. 

Ở một phần khác ta sẽ nói kỹ về lực lượng 
địa phương quân và dân du quân kích trong vai tṛ 
giữ nhà. Ở đây ta chỉ nói về công tŕnh xây 
dựng quân đội chính quy Việt cộng trong kế 
hoạch thôn tính Đông Dương, kể từ năm 1956 khi 
Phạm Văn Đồng đệ tŕnh lên quốc hội Việt 
cộng dự luật "giảm trừ quân bị". 

Đạo luật "giảm trừ quân bị" được thông qua 
nằm trong chính sách Tổng Biên Chế quân đội 
Miền Bằc, và 80.000 quân chính quy giải ngũ gồm 
một số lớn thương phế binh, số c̣n lại quy tụ 
các thành phần bị coi là địa chủ, cường hào, 
ác bá, tư sản v.v... và được đem vào khai thác 
các nông trường "quê hương mới" cùng với một 
số lớn các bộ đội tập kết miền Nam (ở 
những nông trường riêng). 

Những đơn vị Nam Bộ tập kết năm 1954 ra Bằc 
được tổ chức thành những sư đoàn mang phiên 
hiệu Việt cộng 305, 324, 325, 330, 338 và một số 
trung đoàn biệt lập. Như ta đă thấy trong bài 
trước, một phần của các sư đoàn này được 
chia ra xây dựng và quản trị các nông trường, 
phần c̣n lại có nhiệm vụ giữ an ninh, hoặc 
được huấn luyện tại các quân trường như sẽ 
được tŕnh bày trong phần dưới đâỵ 

Theo đạo luật về "Nghĩa vụ quân sự" của Việt 
cộng năm 1960, tất cả các thanh niên từ 18 đến 
28 tuổi đều phải nhập ngũ và phục vụ ít nhất 
3 năm. Bằt đầu từ đó, Việt cộng xúc tiến 
công tác xây dựng quân đội chính quy, mà xuyên 
qua các tài liệu về Việt cộng, ta có thể nhận 
định thấy hai nét chính yếu: 

- Hiện đại hóa quân đội 

- Chính trị hóa quân đội 

1. Hiện đại hóa quân đội 

Hiện đại hóa là khuynh hướng chung của bất cứ 
một nhà cầm quyền mới nào chứ không riêng ǵ 
Việt cô.ng. Nhưng việc hiện đại hóa quân đội 
của Việt cộng có một số đặc điểm làm nổi 
bật những ưu điểm cũng như khuyết điểm của 
Hà Nội trong khung cảnh chiến tranh Đông Dương. 

Sau khi đă nằm vững được t́nh h́nh chính trị 
Miền Bằc, Hồ Chí Minh và cấp đầu lănh Việt 
cộng có nhiều vấn đề phải giải quyết liên 
quan đến công tác hiện đại hóa quân độị Năm 
1956, khi dự tính nuốt trôi miền Nam qua âm mưu 
Tổng Tuyển Cử không thành, viễn ảnh xâm chiếm 
Miền Nam bằng một cuộc chiến tranh vơ trang đă 
trở thành một sự lựa chọn chằc chằn. Trong 
dự tính xâm lăng Miền Nam, Việt cộng cũng nh́n 
thấy khả năng can thiệp của Hoa Kỳ bằng một 
lực lượng quân sự hiện đạị 

Mặt khác, trong khi rêu rao rằng "không có ǵ quư 
hơn độc lập và tự do", Hồ Chí Minh và đảng 
Việt cộng c̣n nhằm thôn tính Đông Dương và 
Thái Lan, một công tác phục vụ cho quan thầy 
được mệnh danh là "nghĩa vụ quốc tế". 

Quân đội Việt cộng Miền Bằc lúc đó c̣n mang 
tính chất một lực lượng vơ trang của một 
cuộc chiến tranh du kích, thích hợp với một 
cuộc chiến tranh phi quy ước, nhưng thiếu những 
đặc tính cần có trong một cuộc viễn chinh quy 
ước tại các chiến trường ngoại lai như Kampuchia 
và Thái Lan, hoặc trong trường hợp phải đương 
đầu với quân đội Việt Nam Cộng Ḥa và lực 
lượng yểm trợ của Hoa Kỳ tại miền Nam. 

Cho tới năm 1958, ngay các đơn vị chủ lực của 
quân đội Việt cộng c̣n được trang bị bằng 
đủ loại vơ khí hỗn tạp của Pháp và Nhật để 
lại cùng với vơ khí và trang bị của Trung Quốc. 
Các sĩ quan và binh lính Việt cộng c̣n mang quân 
phục của thời kháng Pháp. 

Ngày 20-6-1958, chính quyền Việt cộng kư nghị 
định số 307/TTG chính thức ấn định quân hàm cho 
các cấp trong quân đội, và ngày 22 tháng 12, Hồ 
Chí Minh và Phạm Văn Đồng gằn lon cho các cấp 
Tướng Miền Bằc. Từ ngày các cấp Tướng Tá 
Việt cộng mang lon, báo chí Việt cộng lại mở 
một chiến dịch tuyên truyền về sự khác biệt 
giữa hệ thống "lon tư bản phản cách mạng" và 
hệ thống "quân hàm tiến bộ" của quân đội 
nhân dân (bài diễn văn của Nguyễn Chí Thanh đăng 
trong báo Quân Đội Nhân Dân ngày 9-9-1958). 

Nhưng vấn đề quan trọng nhất của công tác hiện 
đại hóa là vấn đề tổ chức, huấn luyện và 
trang bi.. Trên phương diện tổ chức một đạo 
quân hiện đại, Việt cộng Miền Bằc phải thành 
lập thêm các quân chủng ngoài quân chủng Bộ binh. 
Đó là các quân chủng Hải quân, Không quân, và 
các binh chủng Pháo binh, Công binh, Truyền tin và 
Thiết ky.. Việc thành lập thêm những binh chủng 
mới đ̣i hỏi công tác huấn luyện trong nước 
cũng như gửi các thành phần đảng viên trung kiên 
hoặc con của các lănh tụ và cán bộ đầu sỏ đi 
học ở các trường quân sự của các nước cộng 
sản khác. 

Từ năm 1958, Việt cộng thiết lập các trường 
huấn luyện sĩ quan và hạ sĩ quan thuộc mọi quân 
binh chủng: 

- Trường Bộ binh 
- Trường Hải quân Băi Cháy, Ḥn Gay 
- Trường Hải quân Hải Pḥng 
- Trường Hải quân Vinh 
- Trường Pháo binh Sơn Tây 
- Trường Truyền tin 
- Trường Công binh 
- Trường sĩ quan Thiết kỵ 

Việt cộng đă gửi quân nhân đi các nước cộng 
sản để được huấn luyện về không quân, 
rađda, tên lửa (hỏa tiễn), hải quân (chủ yếu là 
tàu ngầm và phóng ngư lôi), công binh, quân giới, 
đặc công v.v.... Đồng thời các chế độ cộng 
sản, nhất là Liên Xô và Trung Quốc, đă trang bị 
vơ khí hiện đại cho Việt cô.ng. Quan niệm hiện 
đại hóa quân đội của Việt cộng bị giằng co 
giữa hai khuynh hướng đối nghi.ch. Khuynh hướng 
Vơ Nguyên Giáp chủ trương sử dụng vơ khí hiện 
đại, kỹ thuật hiện đạị V́ "chiến tranh nhân 
dân" đă lỗi thờị Dĩ nhiên, trong khối cộng 
sản chỉ Liên Xô là có khả năng trang bị đầy đủ 
vơ khí hiện đại cho Việt cô.ng. Đối nghịch 
với khuynh hướng Vơ Nguyên Giáp là khuynh hướng 
Trường Chinh gồm có Trường Chinh, Nguyễn Chí 
Thanh và Lê Đức Thọ chủ trương lấy "chiến tranh 
nhân dân" để đánh thắng chiến tranh hiện đại 
và trong chủ trương "chiến tranh nhân dân", vấn 
đề tối quan trọng là lănh đạo tư tưởng, là 
chính trị hóa quân đội, và vơ trang một cách dư 
thừa bằng vơ khí cổ điển. Quan điểm của 
Trường Chinh cũng là quan điểm Mao Trạch Đông 
đă thằng thế trong Bộ chính trị, v́ thế việc 
hiện đại hóa quân đội Miền Bằc chỉ được 
thực một cách hạn chế. Hậu quả là Việt cộng 
nhận tương đối ít vơ khí hiện đại của Liên 
Xô, mặc dầu tính thành tiền, con số viện trợ 
của Liên Xô rất lớn v́ vũ khí hiện đại trị 
giá caọ Mặt khác Việt cộng nhận được rất 
nhiều vơ khí cổ điển của Trung Quốc từ súng 
lục súng trường tới tiểu liên, trung liên, súng 
pḥng không 37, pḥng không 57, đại bác pḥng không 
v.v.... 

Ưu điểm thứ nhất của đường lối hiện đại 
hóa quân đội Việt cộng là việc thành lập binh 
chủng đặc công, tượng trưng cho quan điểm trang 
bị hạn chế vơ khí hiện đại nhưng chú trọng 
tới chiến thuật, kỹ thuật chiến đấu chuyên 
biệt và tinh nhuê.. Bộ Tư lệnh Đặc công trực 
thuộc Bộ Tổng Tư lệnh quân đội Miền Bằc và 
Bộ Tổng Tham Mưụ Ban chỉ huy rường cột là Lữ 
đoàn 305 tức là Lữ đoàn Dù được thành lập 
từ năm 1958. Nhưng v́ binh chủng Dù không đắc 
dụng trong cuộc chiến tranh Đông Dương nên bộ 
Tổng Tư lệnh Việt cộng đă giải tán và lấy 
toàn thể Bộ Tư lệnh Dù lập thành Bộ Tư lệnh 
Đặc công, do Đại tá Điều làm Tư Lệnh trưởng 
và Thượng tá Đạo làm Chính ủỵ Đặc điểm về 
tổ chức là binh chủng này không có cấp trung 
đoàn, trung đội và tiểu đội, chỉ có cấp 
tiểu đoàn, đại đội, phân đội và thấp nhất 
là tổ, gồm từ 3 đến 5 ngườị Từ 4 tới 5 
tổ hợp thành một phân đội và 5 phân đội 
thành một đại độị Đặc điểm thứ hai là sự 
chuyên biệt. Ví dụ Tiểu đoàn 5 chuyên đánh 
dưới nước, đánh cầu, đánh tàụ Tiểu đoàn 2 
chuyên huấn luyện bổ sung miền Nam. Tiểu đoàn 4 
chuyên đánh thành phố.... 

Ưu điểm của đặc công là lấy chuyên môn đánh 
không chuyên môn, lấy ít đánh nhiều, và về 
phương diện này, bộ đội đặc công giống các 
chiến sĩ biệt kích và các chiến sĩ người nhái 
của Việt Nam Cộng Ḥa trước đâỵ 

Ưu điểm thứ hai của đường lối hiện đại hóa 
hạn chế là ngành pháo binh của Việt cô.ng. Pháo 
binh đă dùng hỏa lực cực kỳ ồ ạt phối hợp 
với việc quan trằc địa h́nh rất kỹ lưỡng. 
Pháo diện địa cũng như pháo pḥng không của 
Việt cộng đă nằm ưu thế tại miền Bằc cũng 
như ở Hạ Làọ Ở Miền Nam, pháo của cộng quân 
đă nâng đỡ cho chúng rất nhiều trước ưu thế 
trên không, ưu thế lưu động tính, và ưu thế 
cơ giới của quân đội Miền Nam và Đồng Minh. 

Mặt khác, đường lối hiện đại hóa hạn chế 
cũng có một số khuyết điểm. Trước hết, quân 
chủng Hải quân, mặc dầu với tàu ngầm, với 
phóng ngư lôi hạm, với tên lửa trang bị cho 
chiến hạm, đă bị Hạm đội 7 của Hoa Kỳ đè bẹp 
ngay trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh 
không tập và Việt cộng đă phải giải tán quân 
chủng này, chỉ giữ lại một ít tàu tượng trưng 
để tuần tiểụ Toàn bộ sĩ quan và binh sĩ tàu 
nổi đều được chuyển sang các quân chủng khác, 
phần lớn là bộ binh. Riêng quân số tàu ngầm 
được tăng cường thêm. Một khuyết điểm thứ 
hai là về không quân. Sau 10 năm chiến tranh, không 
quân Việt cộng hầu như đă không có dịp nào 
tung hoành trên mặt trận Đông Dương, mà chỉ 
quanh quẩn trong nội bộ Việt cộng, hơn nữa, 
c̣n bị đàn áp trước ưu thế của không lực Hoa 
Kỳ, suốt trong 3 năm không tập từ 1965 tới 1968, 
Việt cộng đă mất 50% không lực trong các cuộc 
không chiến cũng như trong các cuộc không tập 
của Hoa Kỳ. Khuyết điểm thứ ba là về hoả 
tiễn. Từ 1965 tới tháng 1-1967, Việt cộng đă 
bằn 1.000 hỏa tiễn SAM mà chỉ hạ 30 máy bay Hoa Kỳ 
trị giá 60 triệu Mỹ kim. 

Trong khi các loại vơ khí thường hạ được 430 
máy bay trị giá hơn 1 tỷ Mỹ kim, th́ trong suốt 
thời gian chiến tranh không tập, Việt cộng đă 
bằn hơn 3.500 hỏa tiễn SAM trị giá gần 100 triệu 
Mỹ kim mà không đạt được kết quả mong muốn. 

2. Chính trị hoá quân đội 

Đường lối hiện đại hoá quân đội một cách 
hạn chế và khuynh hướng ngả về loại chiến tranh 
phi quy ước mà Việt cộng mệnh danh là "chiến 
tranh nhân dân" đă đưa đến việc rập khuôn 
mẫu tổ chức của Trung Quốc trong công tác "chính 
trị hóa" quân độị 

Cấp cao nhất của hệ thống chính quyền trong 
quân đội Việt cộng là Hội Đồng Tối Cao 
Quốc Pḥng gồm toàn Ủy viên chính trị bộ và 
Trung ương đảng: Chủ tịch: là Chủ tịch Nhà nước 

Hồ Chí Minh (chủ tịch đầu tiên) 
và là Tôn Đức Thắng (chủ tịch thứ hai). 
Phó chủ tịch: 
Phạm Văn Đồng (chính trị bộ) 
Vơ Nguyên Giáp (chính trị bộ) 
Ủy viên: 
Nguyễn Chí Thanh (chính trị bộ) 
Văn Tiến Dũng (chính trị bộ) 
Nguyễn Duy Trinh (chính trị bộ) 
Trần Quốc Hoàn (chính trị bộ) 
Nguyễn Văn Trân (Trung ương đảng bộ) 
Chu Văn Tấn (Trung ương đảng bộ) 
Song Hào (Trung ương đảng Bộ) 

(sơ đồ tổ chức) 

Dưới Hội đồng Tối cao Quốc pḥng là Bộ 
Quốc pḥng rồi đến Bộ Tổng Tư lê.nh. Cấp 
đảng ủy kiểm soát Bộ Tổng Tư lệnh Miền Bằc 
là Tổng Quân ủy Trung ương, gồm một số Tướng 
lănh Việt cộng: Vơ Nguyên Giáp (quân hàm Đại 
tướng), Song Hào (Trung tướng), Phạm Ngọc Mẫu 
(Thiếu tướng) và một số Ủy viên Trung ương 
đảng như Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng 
v.v.... 

Đường lối chính trị hóa quân đội, theo sơ 
đồ, cho thấy mấy đặc điểm chính sau đây: 

- Thủ trưởng (chỉ huy) các cấp đơn vị từ Bộ 
chỉ huy đến ban chỉ huy đều phải chịu sự lănh 
đạo của đảng. Sự lănh đạo của đảng đi tới 
cấp thấp nhất là một tổ trong một tiểu 
độị Đơn vị nhỏ nhất của quân đội là "Tổ 
tam tam", gồm 3 người, trong đó tổ trưởng hoặc 
phải là một đảng viên, hoặc một thành phần 
trung kiên cơ bản. Một tiểu đội có ba ba "Tổ 
tam tam". 

- Cấp chỉ huy quân đội chịu sự kiểm tra của 
cấp đảng ủy đơn vị, ví dụ Sư đoàn Trưởng 
chịu sự kiểm tra của Chính ủy sư đoàn là 
người chấp hành đường lối đảng thi hành các 
Nghị Quyết do đảng đề rạ 

- Các chức vụ Chính trị viên hay Chính ủy trong 
quân đội đều do Bí thư Đảng ủy, Đảng bộ 
cấp đó nằm giữ mà bí thư là nhân vật quan 
trọng nhất của Đảng ủy, Đảng bô.. 

Dĩ nhiên đường lối chính trị hóa quân đội 
nói trên cũng được áp dụng cho tất cả các đơn 
vị vơ trang của Việt cộng ở trong Nam, và đảng 
của Việt cộng ở trong Nam mang "ngụy danh" là 
Đảng Nhân Dân Cách Mạng để che dấu sự can 
thiệp của Việt cô.ng. 

Tóm lại, với tổ chức chính trị hóa như trên, 
đảng đă nằm chằc quân đội trong tay, đă nhào 
nặn cả triệu thanh niên trong một hệ thống "bịt 
mằt bằt hào quang giải phóng miền Nam ruột 
thịt", đă lừa bịp và thúc đẩy cả triệu thanh 
niên miền Bằc chết cho cái ảo vọng đẫm máu 
của Các-Mác, Lê-nin. 

Cũng theo sơ đồ nói trên, song song với vai tṛ 
kiểm soát và lănh đạo chính trị của hệ thống 
Đảng ủy, Tổng cục Chính trị có nhiệm vụ thi 
hành các công tác chính trị qua các Cục Tuyên 
huấn, Cục Cán bộ, Cục Tổ chức, Cục Bảo vệ, 
Cục Địch vận, Cục Dân vận và Cục Văn hoá. 

Chuẩn Bị Xâm Nhập Miền Nam 

Đồng thời với công việc xây dựng lực lượng 
quân đội Miền Bằc, Việt cộng đă bí mật 
huấn luyện cán binh để âm thầm xâm nhập miền 
Nam, thành lập khung cho lực lượng cộng quân ở 
miền Nam mệnh danh là "Lực lượng vơ trang giải 
phóng miền Nam". Các cán binh Việt cộng ở miền 
Nam tập kết ra Bằc được huấn luyện tại các 
trung tâm sau đây: 

- Trung tâm Mạch Lũng ở làng Mạch Lũng, huyện 
Đông Anh, tỉnh Hải Dương. 

- Trung tâm Xuân Mai, tỉnh Ḥa B́nh. 

- Trung tâm Sơn Tâỵ 

- Trung tâm Phú Yên, tỉnh Bằc-Thái (Băc Ka.n-Thái 
Nguyên) 

- Khu vực "Thép" tại Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, huấn 
luyện bộ binh, pháo binh, cơ giới, công binh, 
thông tin, hóa học. 

- Trường đặc công, núi Na-Sơn, tỉnh Sơn Tâỵ 

- Trường đặc công xă Đông Yên, huyện Quốc 
Oai, tỉnh Sơn Tâỵ 

Các cán binh thuộc Sư đoàn Nam Bộ tập kết 324 
là những cán binh xâm nhập trong đợt đầu tiên 
vào năm 1960, và được bí mật huấn luyện tại 
một doanh trại của bản doanh Sư đoàn 338 của Tô 
Kư. 

Riêng trung tâm Xuân Mai có khả năng huấn luyện 
mỗi đợt 1.000 ngườị 

Tổng Kết 

Những nỗ lực của Hồ Chí Minh và Việt cộng 
trong việc xây dựng cơ sở vật chất nhằm thôn 
tính Đông Dương đă làm nổi bật kế hoạch hai 
mặt của Việt cộng: mặt ch́m và mặt nổị Mặt 
nổi là xây dựng và phát triển, mặt ch́m là 
chiến tranh thôn tính và bành trướng mà Hồ Chí 
Minh gọi là "nghĩa vụ quốc tế", trong đó Hồ 
bằt nhân dân Việt Nam đóng vai tṛ tên lính 
tiền phong cho cộng sản Liên Xộ 

Trong giai đoạn chuẩn bị cơ sở vật chất cho 
cuộc chiến tranh, một nhà máy phân đạm (chlorure 
de potassium) được Việt cộng đề cao là để 
phục vụ cho nông nghiệp, tăng gia năng xuất và 
nâng cao mức sống nhân dân. Nhưng khi phát động 
cuộc chiến tranh, nhà máy phân đạm biến thành 
nhà máy thuốc súng (sản xuất chlorate de potassium) 
và nhà nước nói là để "giải phóng miền Nam 
ruột thịt và các nước anh em Miên-Lào". 

Khi nhân dân phải ăn đói để nhà nước xây cất 
các nhà máy cơ khí, th́ họ hy vọng có máy cày, 
máy nổ, xe đạp, b́nh thủy, để nâng cao mức 
sống. Nhưng khi Việt cộng phát động chiến tranh 
thôn tính, nhân dân mới vỡ lẽ ra rằng nhà máy 
cơ khí là nơi sản xuất vỏ lựu đạn, ḿn, súng 
đạn, cơ giới chiến tranh. 

Xây dựng xă hội chủ nghĩa trong mấy chục năm qua 
đă gằn liền với chiến tranh thôn tính. H́nh 
thức bề ngoài có khác, nhưng bản chất bên trong 
nếu có khác th́ cũng chỉ là sự khác biệt giữa 
chlorure de potassium và chlorate de potassium. 

Chiến tranh thôn tính trong mấy chục năm qua đă 
đem lại ǵ cho nhân dân, và đă phục vụ cho aỉ 
Nhân dân nghĩ ǵ về cuộc chiến tranh mà Hồ Chí 
Minh nói là sẽ đem lại Thống Nhất, Độc Lập và 
Tự Dỏ Ta hăy đọc những vần thơ dưới đây của 
thi sĩ Nguyễn Chí Thiện: 

Không có ǵ quư hơn độc lập tự do! 

Tôi biết nó, thằng nói câu đó. 
Tôi biết nó, đồng bào miền Bằc này biết nó 
Việc nó làm, tội phạm nó ra sao 
Nó đầu tiên đem râu nó bện vào 
H́nh xác lăo Mao lông lá 
Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá 
Cũng nhoài qua lục địa Trung Hoa 
Không phải xoa đầu mà túm tóc nó từ xa 
Nó không đứng yên, tất bật điên đầu 
Lúc rụi vào Tàu, lúc rụi vào Nga 
Nó gọi Tàu Nga là cha anh nó 
Và t́nh nguyện làm con chó nhỏ 
Xông xáo giữ nhà gác ngơ cho cha anh 
Nó tận thu từ quả trứng trái chanh 
Học lối hung tàn của cha anh nó 
Cuộc chiến tranh chết vội hết thanh niên 
Đương diễn ra triền miên ghê gớm đó 
Cũng là do Nga giật Tàu co 
Tiếp nhiên liệu gây mồi cho nó: 
-Súng, tăng, tên lửa, tàu bay 
Nếu không, nó đánh bằng taỷ 
Ôi đó, thứ độc lập không có ǵ quư hơn của nó! 


Tôi biết rơ, đồng bào miền Bằc này biết rơ 
Việc nó làm, tội phạm nó ra sao 
Nó là tên trùm đao phủ năm nào 
Hồi cải cách đă đem tù, đem bằn 
Độ nửa triệu nông dân 
Rồi bảo là nhầm lẫn 
Đường nó đi trùng điệp bất nhân 
Hâm hấp trời đêm nguyên thủy 
Đói khổ dựng cờ đại súy 
Con cá, lá rau nát nhầu quản lư 
Tiếng thớt tiếng dao vọng từ hồi kư 
Tiếng thở lời than đan họa ụp vào thân 
Nó tập trung hàng chục vạn "ngụy quân" 
Nạn nhân của đường lối "khoan hồng chí nhân" của nó 
Mọi tầng lớp nhân dân bị cầm chân trên đất nó 
Tự do, không thời hạn đi tù! 
Mắt nó nh́n ai cũng hóa kẻ thù 
V́ ai cũng đói ṃn nhục nhằn cằn răng tạm nuốt 
Hiếm có gia đ́nh không có người bị nó cho đi suốt 
Đất nó thầm câm cũng chẳng được tha! 
Tất cả phải thành loa 
Sa sả đêm ngày ngợi ca nó và đảng nó 
Đó là thứ tự do không có ǵ quư hơn của nó! 

Ôi! Độc Lập! Tự Do 
Xưa cũng chỉ v́ quư hai thứ đó 
Đất Bằc mằc lừa mất vào tay nó 
Nhưng nay mà vẫn c̣n có người mơ hồ nghe nó! 
Nó mới vạn lần cần nguyền rủa thực to!

Home